Tôi đã học từ anh Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật là người đọc nhiều và hiểu rất sâu về thơ. Sinh thời, nhiều lần, trước các nhà thơ trẻ, anh thường nhắc đến những câu thơ đặc biệt ấn tượng trong bài "Dạo chơi buổi tối" của Nazim Hikmét và trong bài "Sau trận đánh" của Victo  Hugo.

1.Năm 1973, khi đi dọc Trường Sơn, trong ba lô của cánh lính trẻ thuở ấy, có những tập thơ đáng nhớ: "Đất ngoại ô" của Nguyễn Khoa Điềm, "Cây xanh đất lửa" của Nguyễn Đức Mậu", "Thơ giải thưởng Báo Văn nghệ 1969"… Riêng "Thơ giải thưởng Báo Văn nghệ 1969" được chúng tôi chuyền tay nhau đọc đến nhàu nát. Không ít người đã mê mẩn chùm thơ đoạt giải nhất: "Lửa đèn", "Bài thơ về tiểu đội xe không kính", "Gửi em cô thanh niên xung phong", "Nhớ" của nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Những câu: "Em ở Thạch Kim, sao lại lừa anh nói là Thạch nhọn", "Không có kính không phải vì xe không có kính", "Cái vết thương xoàng mà đưa viện"… luôn được nhiều đồng đội của tôi nhập tâm vì sử dụng ngôn ngữ rất gần gũi, đời thường và rất lính tráng của tác giả.

Ban đầu, khi đọc "Bài thơ về tiểu đội xe không kính", "Nhớ" (lời một chiến sĩ lái xe), chúng tôi cứ ngỡ Phạm Tiến Duật là một người lính lái xe. Sau này mới biết: Phạm Tiến Duật lúc đó đang là phóng viên mặt trận của Báo Trường Sơn và do đi thực tế thường xuyên bằng ôtô vận tải trên đường 559, mà anh viết được hai bài thơ trên.

Phải nói là ngày ấy, thơ Phạm Tiến Duật có ảnh hưởng lớn đến những người yêu thơ, nhất là những người đang tại ngũ, đang có mặt ở chiến trường, đang ngày đêm làm nhiệm vụ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai" (Tố Hữu).

Mà ngày ấy, "phơi phới dậy tương lai" hay "đường ra trận mùa này đẹp lắm" (một câu thơ trong "Trường Sơn đông Trường Sơn tây" cũng của Phạm Tiến Duật) là một hiện thực, một tâm thế có thật. Bản thân tôi, khi vượt Trường Sơn, vào chiến trường B2, cũng đã nhập vào một không khí rạo rực và hào hứng rất tự nhiên như vậy. Tôi nghĩ đó là "sức mạnh tinh thần" của những người trai thời chiến, của cả một dân tộc được đưa vào thơ và chỉ có những ai trong cuộc mới thực sự thấm thía, cảm nhận được điều này.

Đã không ít người lính đọc thơ của "thi sĩ Trường Sơn" và có một đồng đội của tôi - một người cầm bút ở thuở ban đầu tâm sự: "Rõ ràng cái điệu tâm hồn trong thơ Phạm Tiến Duật đã khác, nếu so với thơ mới, thơ chống Pháp và cả những người khác trong cùng thế hệ thơ chống Mỹ.

Thơ Phạm Tiến Duật tuy rất thơ, vẫn thơ nhưng lại có cách diễn đạt gần với văn xuôi. Có vẻ như anh chú trọng tổng thể hơn là chi tiết, "thượng ý' chứ không "thượng từ". Đặc biệt là khả năng lật ngược vấn đề với nhiều phát hiện khác biệt, bất ngờ trong "Đèo Ngang" với "Bao nhiêu người làm thơ đèo Ngang/ Mà không biết con đèo chạy dọc", trong "Tiếng bom ở Seng Phan" với "Thế đấy ở chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ". Anh đã mở ra một lối viết, lối tiếp cận…Tôi muốn viết được như anh".

Có lẽ tâm sự này không chỉ của riêng một đồng đội của tôi, mà còn của nhiều người khác nữa. Rất nhiều năm sau, có lần tôi đã nghe nhà thơ Nguyễn Hồng Hà - người được coi là "người lính ít lời" trong thơ, nói: "Ban đầu, tôi muốn làm thơ theo cách Phạm Tiến Duật, vì tưởng làm thơ như thế thì không khó. Nhưng sau, tôi mới hay: Làm thơ như thế, cũng khó lắm. Vả lại, nếu làm thơ có giống thiên tài thì dù thế nào, cũng vẫn là "bản sao". Vì thế, tôi đã làm thơ theo kiểu của tôi".

2.Phạm Tiến Duật là người đọc nhiều và hiểu rất sâu về thơ. Sinh thời, nhiều lần, trước các nhà thơ trẻ, anh thường nhắc đến những câu thơ đặc biệt ấn tượng trong bài "Dạo chơi buổi tối" của Nazim Hikmét và trong bài "Sau trận đánh" của Victo  Hugo.

Đây là những câu trong "Dạo chơi buổi tối" qua bản dịch của Xuân Diệu: "Anh mới ra tù/ Và tức khắc/Anh đã làm vợ anh có chửa".

Còn đây là nguyên văn "Sau trận đánh" qua bản dịch của Khương Hữu Dụng: "Cha tôi người anh hùng với nụ cười hiền dịu/ Cùng một tên lính hầu thân cận người thương/ Vì tầm vóc trượng phu và lòng dũng cảm phi thường/ Giong ruổi buổi chiều sau trận đánh/ Chiến trường xác ngổn ngang đêm xuống lạnh/ Có tiếng kêu yếu ớt vẳng bên đường tường/ Một tên lính Tây Ban Nha thuộc đám bại quân/ Nằm rên rỉ máu đầy người bê bết/ Mặt tái nhợt như chỉ còn đợi chết: "Cho tôi… xin… hớp nước… làm ơn!"/ Cha tôi mủi lòng nhìn kẻ bị thương/ Tháo bình rượu sau yên trao cho người lính hầu trung dũng/ Và bảo: "Ngươi cầm lấy rót cho hắn uống"/ Trong lúc người cận vệ nghiêng mình/ Đưa bình rượu… tên bại binh/ Thình lình giơ súng lên quyết liệt/ Nhằm trán cha tôi la to: "Mày phải chết!"/ Viên đạn bay quá gần làm chiếc mũ bắn tung/ Và con ngựa nhảy lui một bước hãi hùng/ Cha tôi nói: "Cứ cho hắn uống".

Chân dung nhà thơ Phạm Tiến Duật qua nét vẽ của họa sĩ Đinh Quang Tỉnh.
Chân dung nhà thơ Phạm Tiến Duật qua nét vẽ của họa sĩ Đinh Quang Tỉnh.

Phạm Tiến Duật bảo: "Thoạt đọc, thấy những câu thơ trên rất gần văn xuôi, rất gần với một câu chuyện kể và nhiều người rất dễ bỏ qua. Nhưng đọc kỹ, mới thấy ở trong chúng, hàm lượng và giá trị tư tưởng rất cao. Những câu thơ của Nazim Hikmét có ý tố cáo nhà tù của bọn phát xít đã giam cầm cả sự sinh sôi nữa.

Bởi thế cho nên mới có chuyện: "Anh mới ra tù/ Và tức khắc/ anh đã làm vợ anh có chửa". Còn cả bài thơ của Victo Hugo nhằm ca ngợi tính nhân bản lớn lao của một vị tướng. Ngay cả khi ra tay làm vơi cơn khát kẻ thù của mình, rồi bị kẻ thù của mình đã ra tay cứu vớt bắn, mà trước khi từ giã cõi đời, vị tướng vẫn nói: "Cứ cho hắn uống". Viết được những tứ thơ như thế là rất khó. Đó là những điều giản dị khó làm. Nên nhớ, giản dị khác với đơn giản, nhưng phải là giản dị khó làm kia, mới đáng được đánh giá cao. Ý tại ngôn ngoại của thơ, cũng là vậy".

Phạm Tiến Duật cũng là người coi trọng những nhà thơ có những câu thơ hạng nhất. Anh bảo: "Thi Hoàng ít nhất có hai câu thơ hạng nhất: "Trời cứ xanh như rút ruột mà xanh/ Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc". Chế Lan Viên ít nhất có một câu thơ hạng nhất: "Anh nhớ em như đông về nhớ rét". Nói ít nhất vì cả Thi Hoàng và Chế Lan Viên vẫn còn những câu thơ hạng nhất khác.

Riêng câu: "Anh nhớ em như đông về nhớ rét", quá hay, vì nó được viết như không, như bắt được vậy! Bởi vì đã nói đến mùa đông là nói đến rét. Không có rét thì làm sao ra mùa đông. Nhớ em đến thế là cùng kỳ cả lý lẫn tình rồi còn gì.

3.Phạm Tiến Duật là người sắc sảo, thông minh và rất tinh thông trong nghề. Khi nhận xét về một người làm thơ, anh cũng bộc lộ mình rất rõ. Anh từng khuyên một nhà thơ trẻ: "Khi một người làm thơ mà lúc thì giống nông dân, lúc thì giống công nhân, lúc thì giống trí thức… là anh đã pha loãng và uốn éo cá tính của mình rồi đấy. Cần phải biến cá tính của mình thành cá tính của ngòi bút và gìn giữ được cá tính của mình.

Mà cá tính, suy cho cùng cũng chính là sự khác biệt và độc đáo của mỗi cuộc đời cầm bút". Anh từng nhắc nhở khéo một người làm thơ thực thà như đếm: "Nói về thuộc tính của một sự vật mà nó vốn có, tức là chưa nói gì.  Đọc thơ bạn, tôi có cảm giác bạn quê ở... Thế có đúng là quê bạn ở trong ấy không?".

Anh cảnh tỉnh khéo một người làm thơ trùng với đề tài của người khác: "Khi cầm bút viết một bài thơ giống với tên một bài thơ người khác, rất cần phải dè chừng. Nếu không hơn họ thì đừng viết, nếu hơn họ thì hãy viết. Cần phải biết sợ và biết không sợ.

Tuyển tập của nhà thơ Phạm Tiến Duật được bạn bè đồng nghiệp biên soạn trước khi nhà thơ Phạm Tiến Duật qua đời.
Tuyển tập của nhà thơ Phạm Tiến Duật được bạn bè đồng nghiệp biên soạn trước khi nhà thơ Phạm Tiến Duật qua đời.

Âu cũng là chữ "biết" trong việc làm thơ vậy!" Anh nói với một người ưa chạy theo hình thức trong thơ: "Hình thức có gì quá quan trọng lắm đâu. Nội dung bao giờ cũng đẻ ra hình thức. Hay nói một cách khác: Nội dung luôn là cái gốc, còn hình thức chỉ là cái ngọn.

Bây giờ, nếu cậu viết được một bài, không phải là thơ, cũng không phải là văn, mà là "the", lại rất hay, thì bạn đọc vẫn chấp nhận như thường". Anh nói với một người quá thiết tha trong việc thơ được đăng báo, cho dù chất lượng chưa đạt chuẩn, cố viết mãi cũng không đạt chuẩn: "Nếu đăng bài thơ này lên mà cứu được một mối tình hoặc làm cho mẹ cậu sống thêm được mấy năm, thì tôi sẵn sàng… Nhưng chỉ đăng duy nhất một lần thôi nhé!".

Năm 1980, vừa viết xong bài thơ "Tiễn người bên bến nước sông Thương", tôi đã vội vã gửi đến Báo Văn nghệ. Khi đọc mấy câu: "Người đi có nhớ sông Thương/ Bến nước rợp trời chim trắng/ Đôi mắt ai như hai dấu nặng…", anh lắc đầu: Câu "Đôi mắt ai như hai dấu nặng" không ổn. Em định viết về đôi mắt của người mù sao? Trong thơ, rất cần lựa từ, chọn chữ. Em phải sửa ngay câu thơ này đi".

Đôi khi, Phạm Tiến Duật còn là người rất hoạt và rất có hàm ý khi trong vai người viết phê bình văn học. Có lần, nhận xét về một nhà thơ đoạt giải Hội Nhà văn trong năm, anh viết: "Thú thực, trước 1975, tôi chưa biết nhà thơ này là ai". Có lần, nhận xét mang tính tổng kết về một cuộc thi thơ không mấy thành công, anh giật cái tít: "Màu xanh cùng với chân trời ló ra…".

Phạm Tiến Duật được coi là "Người lĩnh xướng dàn thơ chống Mỹ", "Con chim lửa Trường Sơn"… Tôi đã học từ anh nhiều điều bổ ích và sâu sắc qua nhiều lần tiếp xúc, gặp gỡ. Đó cũng may mắn trong cuộc đời làm thơ của tôi ở thủa ban đầu.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.