Tô Nguyệt Đình - ngòi bút yêu nước chốn đô thành Sài Gòn

Được độc giả miền Nam biết đến nhiều trong giai đoạn 1945 - 1954 và cả sau đó, nhưng cuộc đời và văn nghiệp của Tô Nguyệt Đình vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chưa được đề cập đến nhiều trong các công trình về lịch sử văn học cũng như báo chí Nam Bộ. Năm 2025 là kỷ niệm 105 năm ngày sinh của ông, một nhà văn, nhà báo từng hoạt động sôi nổi ở đô thị miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Từ một ký giả có danh trong làng báo

Tô Nguyệt Đình có tên thật là Nguyễn Bảo Hóa. Ông còn có bút danh khác là Tiêu Kim Thủy, tuy nhiên, trên văn đàn Sài Gòn trong giai đoạn 1945-1954 thì cái tên Tô Nguyệt Đình vẫn được biết nhiều nhất.

cu-c bi-u tình “ngày ký gi- di an mày” do nhà báo tô nguy-t ðình làm t-ng ch- huy.jpg -0
Cuộc biểu tình "Ngày Ký giả đi ăn mày" do nhà báo Tô Nguyệt Đình làm tổng chỉ huy.

Tô Nguyệt Đình sinh ngày 1/10/1920 tại làng Phước Lễ, tỉnh Bà Rịa, ngày nay thuộc tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu. Thuở nhỏ, ông từng học ở Bà Rịa, rồi Sài Gòn. Sau khi đậu bằng Thành chung (tương đương với tốt nghiệp cấp II ngày nay), vào khoảng năm 1940, ông mở một cửa hàng sách báo tại Bà Rịa và làm thông tín viên cho các báo Tin điển, Tiểu thuyết thứ bảy… Năm 1941, ông được giải thưởng văn chương của hai tờ báo này. Như vậy, Tô Nguyệt Đình đã bước chân vào làng văn, làng báo khi tuổi đời còn khá trẻ.

Từ năm 1946, Tô Nguyệt Đình lên Sài Gòn sinh sống. Ông cộng tác với khá nhiều báo như Tin điển, Ánh sáng, Tiếng dội, Lên đàng, Đoàn kết, Dân thanh, Việt thanh, Việt Nam, Thế giới, Tuần báo thứ năm… Thời kỳ làm báo cũng là thời kỳ Tô Nguyệt Đình hăng hái tham gia nhiều hoạt động chính trị thể hiện tinh thần yêu nước chống Pháp. Ông tham gia “Phong trào Báo chí thống nhất” (1946), đả phá thuyết “Nam Kỳ quốc tự trị” nhằm mục đích chia cắt đất nước (1947), có chân trong tổ chức “Liên hiệp báo chí Việt Nam” (1948).

Năm 1951, ông bị bắt giam ba tháng tại bót Catinat vì lý do chủ trương tờ Tuần báo thứ năm và viết bài lên tiếng chống giải pháp Bảo Đại quay lại làm quốc trưởng, chống cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Đến cuối năm 1954, ông bị bắt đưa đi quản thúc ở Hải Phòng vì đã tham gia vào phong trào bảo vệ hòa bình của luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Đến cuối năm 1955, ông quay lại Sài Gòn, tiếp tục sự nghiệp viết văn, làm báo cho đến năm 1975. Trong quãng thời gian này, ông cộng tác với các báo như Trời Nam, Chuông mai, Buổi sáng, Ngày mai, Tiếng chuông, Tuần báo Nhân loại, Tầm nguyên, Tân dân, Đuốc thiêng, Chị cùng em, Dân tộc, Tiến, Vận hội mới, Tin sớm, Phổ thông, Tranh thủ, Tin mật, Thời đại mới, Dân nguyện…

Những bài viết của Tô Nguyệt Đình trên báo chí công khai ở đô thành Sài Gòn trong giai đoạn 1945-1975 thường là những bài mang tính chính luận, đề cập trực diện đến nhiều vấn đề của hiện thực đời sống chính trị ngay trước mắt, vừa tố cáo mạnh mẽ và kịp thời những âm mưu, chính sách thâm độc của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, vừa tuyên truyền cho cách mạng và đấu tranh cho tự do, dân chủ.

Bài báo "Nên bảo vệ và cứu trợ triệt để tù nhân chính trị!" đăng trên Báo Tin điển ngày 13/10/1946 có thể được xem là một bài báo tiêu biểu cho ngòi bút chiến đấu của Tô Nguyệt Đình. Hơn ba mươi năm trong nghề báo, cho đến khi gác bút, Tô Nguyệt Đình vẫn là một nhà báo dũng cảm, với tôn chỉ là viết đúng sự thật và viết để hướng tới những lý tưởng xã hội tốt đẹp.

Đến một nhà văn, nhà biên khảo lịch sử

Tô Nguyệt Đình viết hai thể tài tiểu thuyết chủ yếu là tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết lịch sử. Với hai thể tài này, ông dễ dàng dùng nội dung cốt truyện để lồng vào đó những lời kêu gọi người dân đứng lên chống thực dân Pháp.

Tiểu thuyết trinh thám “Bộ áo cà sa nhuộm máu” là tiểu thuyết có dung lượng dài nhất của nhà văn Tô Nguyệt Đình và cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất. Khi sáng tác tác phẩm này, nhà văn đang phải chịu sự theo dõi sát sao của thực dân Pháp, vì vậy, tác phẩm xuất bản với tên tác giả được viết tắt là N.B.H (tức là Nguyễn Bảo Hóa).

“Bộ áo cà sa nhuộm máu” có nội dung kể về những hoạt động của Đảng Sao Đen, một chính đảng chống thực dân Pháp tại Sài Gòn. Long Vân am nằm ở vùng ngoại ô Sài Gòn với địa thế hoang vu, vắng lặng chính là trụ sở của Đảng Sao Đen. Đứng đầu Đảng Sao Đen là nhà cách mạng Lương Huyết Hùng.

Đảng Sao Đen còn có những thành viên cốt cán như Trưởng ban Tuyên truyền Lê Hồng Long, Đạo Không hòa thượng, chàng thanh niên người Cao Miên Pru Boòn, các nữ đảng viên Hoa Tuyết Trinh, Điệp Trà My… Đảng Sao Đen có chủ trương “hành động theo lẽ phải, vì chánh nghĩa, hòa cùng một nhịp tranh đấu chung của toàn dân để kiến thiết quốc gia trên nền tảng Bình đẳng, Tự do, Bác ái.

Với nội dung ly kỳ, tình tiết bất ngờ, "Bộ áo cà sa nhuộm máu" trước hết thu hút độc giả ở cốt truyện mang màu sắc trinh thám với đầy đủ các yếu tố hấp dẫn.

sách tô nguy-t ðình 2.jpg -1
Bìa cuốn sách viết về liệt sĩ cách mạng Phạm Hồng Thái.

“Bộ áo cà sa nhuộm máu” có nhiều mô típ phảng phất như một số tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ ra đời trước đó hai, ba mươi năm. Chi tiết hai mẹ con thiếu phụ xinh đẹp, giàu sang, bị cô tớ gái thông đồng với người ngoài âm mưu cướp của, bắt cóc giống như tiểu thuyết “Khép cửa phòng thu” của Nam Đình Nguyễn Thế Phương, xuất bản năm 1933.

Chi tiết ngọc quý bị mất giống như tiểu thuyết “Châu về hiệp phố” của Phú Đức, xuất bản những năm 1926, 1927, 1928. Và những nhân vật như Lương Huyết Hùng, Lê Hồng Long dễ làm người ta liên tưởng đến những nhân vật hành động xuất quỷ nhập thần như Hoàn Ngọc Ẩn, Bách Si Ma. Có lẽ khi viết “Bộ áo cà sa nhuộm máu”, nhà văn Tô Nguyệt Đình đã chịu ảnh hưởng ít nhiều từ những tác phẩm rất nổi tiếng đối với độc giả Nam Bộ mấy mươi năm về trước.

"Bộ áo cà sa nhuộm máu" đã đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân đang sống ở vùng tạm chiếm mà tấm lòng vẫn hướng về chiến khu cách mạng, về những con người đang cầm súng kháng chiến chống thực dân Pháp.

Một tác phẩm khác của Tô Nguyệt Đình cũng được nhiều người biết đến là tiểu thuyết “Mía sâu có đốt”, viết chung với Thâm Giao. “Mía sâu có đốt” vẫn nằm trong mạch văn khơi gợi lòng yêu nước, tự hào dân tộc.

Tác giả Tô Nguyệt Đình khi sáng tác tiểu thuyết có lẽ chỉ xem mục đích phụng sự nghệ thuật là thứ yếu. Mục đích chủ yếu của ông vẫn là dùng ngòi bút đóng góp cho mặt trận văn báo thời kỳ này, vừa kêu gọi lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, vừa lên án mạnh mẽ chính sách của chính quyền thực dân Pháp, lên án những con người đã quay lưng lại quê hương để chạy theo thế lực ngoại bang.

Cùng với mục đích ấy, Tô Nguyệt Đình đã viết một loạt sách biên khảo lịch sử có nội dung khảo cứu về lịch sử nước nhà. Nhà văn cũng không ngần ngại khi bày tỏ chính kiến của mình như sau: "Nghệ sĩ Việt Nam phải lấy tư cách nghệ sĩ, có nhiệm vụ phải làm trong cuộc giải phóng dân tộc… giúp quần chúng kiến thiết đời sống mới hay làm lợi khí chống xâm lăng".

Tô Nguyệt Đình viết tổng cộng 4 tác phẩm biên khảo lịch sử trong suốt quãng đời cầm bút của mình. “Nam Bộ chiến sử” viết về cuộc chiến đấu trường kỳ, dai dẳng của người dân Nam Bộ chống lại quân Pháp xâm lược. “Phạm Hồng Thái” viết về cuộc đời của liệt sĩ cách mạng Phạm Hồng Thái từ những ngày còn ở tuổi niên thiếu cho đến khi có hành động quyết tử ném bom nhằm ám sát Toàn quyền Martial Merlin tại Sa Diện (Quảng Châu - Trung Quốc).

“Tàn phá Cổ Am” viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng. Theo như lời tựa thì tác phẩm này được hoàn thành vào năm 1949, nhưng mãi đến năm 1958 mới xuất bản. “Việt Nam 25 năm máu lửa” xuất bản năm 1971 nhưng bị cấm vì có nội dung yêu nước, chống thực dân, đế quốc. Tuy là biên khảo lịch sử nhưng cách viết của ông gần gũi với thể tài truyện ký danh nhân, chứa đựng nhiều tình tiết, nội dung hấp dẫn, gần gũi với độc giả và có tính phổ cập cao.

Có thể nói, cùng với những ngòi bút sống cùng thời Tô Nguyệt Đình đã có những thành tựu văn chương và báo chí đáng được ghi nhận. Sự nghiệp cầm bút của ông đã hòa cùng vào một dòng chảy chung của văn học công khai yêu nước ở các đô thị Nam Bộ.

Tô Nguyệt Đình qua đời ngày 17/5/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay tại Bà Rịa - Vũng Tàu có một con đường mang tên ông.

Hà Thanh Vân

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.