Kỷ niệm 70 năm giải phóng Thủ đô Hà Nội 10/10/1954 - 10/10/2024

“Tiến về Hà Nội” - Kiệt tác của Văn Cao

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, khi nghệ sĩ Văn Cao mới ở tuổi 57 đã có người ví ông là “Ba đỉnh núi sương mù”. Người gọi ông là “Dòng sông ba nhánh”. Có người gọi ông là “Nghệ sĩ đa tài”; còn nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo lần đầu gặp ông đã viết bài trên Báo Văn nghệ Công an mang tên: “Văn Cao - Bậc tài danh xuyên thế kỷ”, với ba đỉnh cao nghệ thuật: Âm nhạc, Thi ca và Hội họa.

Những người yêu âm nhạc thuộc cả tên các bài hát, năm sáng tác như: “Tiến quân ca”; “Làng tôi”; “Trường ca sông Lô” và “Tiến về Hà Nội” - Những tác phẩm âm nhạc sống mãi cùng năm tháng. “Tiến về Hà Nội”, một tác phẩm âm nhạc bất hủ của Văn Cao.

z5881182796702_d9cfadf680542c9c4057f2f6ef513598.jpg -1
Ảnh chân dung nhạc sĩ Văn Cao của Hoàng Kim Đáng.

“Tiến về Hà Nội” như trong tiểu sử của tác giả thì được viết năm 1947(1). Có tài liệu lại nói viết năm 1948 và chính thức ra mắt năm 1949, nhưng điều chắc chắn là được viết sau thành công vang dội của “Trường ca sông Lô” bất hủ, do sự khuyến khích của Tướng Lê Quang Đạo(2). Đúng như trong hồi ký của Văn Cao viết: “Tôi còn nhớ trong một buổi họp chi bộ ở Liên khu III, tôi đã hứa với các đồng chí Khuất Duy Tiến và Lê Quang Đạo.

Anh Đạo nắm tay tôi và nói: “Những ca khúc của cậu làm tôi rất xúc động (xưng hô bằng cậu tớ chứ không đồng chí gì hết) nhất là bài “Làng tôi” và “Trường ca sông Lô”. Nét nhạc và lời ca thơ mộng lắm, hùng tráng lắm mà vẫn lạc quan làm mình rất nhớ Việt Bắc. Dù sao thì cái chất lãng mạn của cậu vẫn không thay đổi. Riêng bài “Trường ca sông Lô”, không những lời ca hay mà nét nhạc lại rất du dương và hùng tráng nữa chứ! Vậy nếu cậu yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội thì hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng, vừa trữ tình nhé”.

Khi anh Lê Quang Đạo tiễn tôi ra về, anh đã khoác vai tôi trên đường làng một quãng dài. Anh thủ thỉ nói với tôi: “Khẩu hiệu của Trung ương là “Tất cả cho Tổng phản công!”. Nhưng nếu có một bài hát cho Hà Nội đầy tình cảm cũng là mơ ước của những người dân Thủ đô đấy”!

Đêm ấy ra về đi dọc đường làng Đào Xá, dưới trăng sáng mờ ảo lung linh bên những rặng tre xanh là những nét nhạc đầu tiên của bài “Tiến về Hà Nội” đã đến với tôi: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về…”.

Chỉ hai tuần sau đó, tôi đã viết xong ca khúc “Tiến về Hà Nội”, đã được anh Khuất Duy Tiến cho in ngay vào Báo Thủ đô hồi ấy. Trong kỷ niệm của tôi khi làm Báo Thủ đô, tôi nhớ nhất là nụ cười hồn hậu của anh Lê Quang Đạo, khi ngồi nghe tôi và các bạn tôi hát bài “Tiến về Hà Nội”.

Bài “Tiến về Hà Nội” không cánh mà bay. Bộ đội hát, dân công hát. Nhân dân Nam Bắc đều hát theo nhịp hành khúc “Tiến về Hà Nội”. Bài hát “bay” cả vào nhà tù đế quốc. Tù nhân hát. Họ hát như xé toang lồng ngực. Họ hy vọng một ngày không xa sẽ cùng quân dân tiến về Hà Nội: “Trùng trùng quân đi như sóng…”!

Không hiểu sao tự nhiên có dư luận phía địch tung lên, sặc mùi đố kỵ rằng: Bài hát ra đời năm 1949 khi đất nước đang còn trong giai đoạn cam go mà đã lạc quan tếu! Đã hò hét nhau tiến về Hà Nội! Họ tự cho mình cái quyền được “dạy bảo” và quy chụp vô lối, sặc mùi đánh hôi và cơ hội. Văn Cao khi ấy tuy còn trẻ nhưng rất bình tâm và nghe ngóng không phản ứng và cũng không thanh minh. Đến ngày 10/10/1954, cả Hà Nội một khí thế bừng lên: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về/ Chúng ta đi reo vui, lúc quân thù đầu hàng/ Cờ ngày nào tung bay trên phố…”.

co hoa.jpg -0
Nhân dân Hà Nội đón đoàn quân tiến về giải phóng Thủ đô 10/10/1954. Ảnh tư liệu

Những gì diễn ra sáng ngày 10/10/1954, cờ và hoa cùng hàng vạn người vui sướng đến rơi nước mắt. Khi chúng ta được xem những trường đoạn phim của nhà quay phim Liên Xô nổi tiếng Các-men mới thấy đúng như Văn Cao mô tả cách đây đã 5 năm. Chưa cần nghe nhạc, chỉ đọc phần lời bài hát đã thấy tài năng trong tư duy tưởng tượng của Văn Cao là siêu phàm, rằng: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa xuống cành nở năm cánh đào/ Chảy dòng sương sớm long lanh…”. Tác giả chưa cần viết nhạc, chỉ riêng phần lời nhưng đã có văn, có thơ, có nhạc, có họa.

Tháng 9/1986, nhà văn Tô Hoài cử tôi đến gặp nhạc sĩ Văn Cao để đặt ông viết bài dưới dạng hồi ký khi sáng tác bài “Tiến về Hà Nội” để kịp in trên Tuần báo Văn nghệ Người Hà Nội số ra ngày 10/10/1986 - Thời kỳ mở đầu cho công cuộc đổi mới đất nước. Lúc đầu ông do dự và tâm sự. Tôi hiểu, bởi cái án vô hình “Nhân văn giai phẩm” ấu trĩ một thời vẫn treo lơ lửng trên đầu ông, lại còn bị tiếng “lạc quan tếu!” nữa chứ!

Ông không nói ra nhưng tôi cũng đủ hiểu và ông cũng chỉ do dự thôi: “Mình không viết ra thì sau này ai biết đâu cái suy nghĩ của thằng nghệ sĩ trước những sự kiện trọng đại của đất nước, của dân tộc khi đưa vào tác phẩm nó khó khăn, lao tâm khổ tứ, nó đòi hỏi đến tài năng, sự tiên cảm nghệ sĩ là thế nào?... Khi sáng tác “Tiến quân ca” và “Tiến về Hà Nội” tôi đều có linh tính, cảm nhận, đón bắt sự kiện, tưởng tượng để hoàn thành tác phẩm trước khi sự kiện lịch sử sẽ đến với nó”. Xin độc giả hãy đọc đôi dòng của bác Văn sẽ rõ. Thời kỳ này vẫn phải ký tên tác giả chỉ là “Văn” mà không có chữ “Cao”!

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 1986. Anh Hoàng Kim Đáng thân mến!

Giữ đúng lời hứa với anh, tôi đã viết xong bài hồi ký kỷ niệm ngày tôi viết “Tiến về Hà Nội”. Chiều hôm qua tôi chờ mãi mà không thấy anh tới, chắc vì trời mưa. Hôm nay tôi nhờ cháu Hòa mang tới để anh kịp in vào số báo ngày 10/10/1986 tới. Nếu như chữ nghĩa còn trúc trắc hoặc câu văn chưa gọn, anh có thể sửa vài chữ cũng không sao. Tình hình thông qua ban lãnh đạo Tòa báo như thế nào thì mong anh cho biết sớm nhé. Nhờ anh đánh máy quá cho tôi xin một bản và tôi xin lại bản viết tay nhé. Chúc anh khỏe và vui. Thân mến! Văn Cao.

Trong bức thư này ông mới ký tên đủ hai chữ Văn Cao, còn trong tác phẩm in trên báo vẫn chỉ ký chữ “Văn” mà thôi. Bài này Tòa soạn sẽ ký đủ tên tác giả là Văn Cao hẳn hoi để bạn đọc biết đến tác giả “Tiến về Hà Nội” còn khỏe cả về tinh thần, trí tuệ và cả thân thể nữa.

Hôm tôi đến gửi bác Văn Cao bản đánh máy và bản viết tay, ông rất vui mời tôi chén rượu và nói chậm rãi:

- Anh đặt tôi viết thì xin cảm ơn. Dù in hay không in vẫn là của tôi. Tôi nhận lời viết là đáp lại cái tình mà anh có nhã ý đến với tôi. Không biết thời điểm này Tô Hoài - ông chủ bản báo của anh đã chịu in cho tôi chưa?

Tôi liền trả lời ngay:

- Dạ thưa, chính bác Tô Hoài cử Đáng đến gặp bác để đặt bài viết đấy ạ!

- Thế hả! Văn Cao sẽ chờ bài đó ra mắt đúng ngày 10/10/1986. Xin chúc mừng và cạn chén.

*

Bài hát “Tiến về Hà Nội” ra đời đã hơn 70 năm, tác giả đã đi xa nhưng tên tuổi nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ Văn Cao cùng tác phẩm bất hủ viết về Hà Nội - Thủ đô vẫn trường tồn trong tâm hồn Người Hà Nội và đồng bào cả nước.

Hà Nội 19/8/2024

---------

(1): In trong tác phẩm “Văn Cao - Tác phẩm thơ” NXB Hội Nhà văn 2013

(2): Tướng Lê Quang Đạo sau này là Trung tướng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCNVN.

Hoàng Kim Đáng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.