Theo chia sẻ của nhà biên kịch Vũ Xuân Cải, thời gian này ông đang hoàn thiện 2 kịch bản sân khấu là “Những đứa trẻ lớn lên trong ngõ Thảm” và “Bên dòng sông Hiếu”. Trong “Những đứa trẻ lớn lên trong ngõ Thảm”, nhà biên kịch Vũ Xuân Cải sẽ kể câu chuyện về cuộc sống đô thị, gắn với số phận của những đứa trẻ trong cùng một con ngõ. Chúng sinh ra trong những gia đình có hoàn cảnh khác nhau, lớn lên cùng những biến động của lịch sử - xã hội, mà ở đó có thể thấy một lát cắt của đô thị Hà Nội từ trong chiến tranh, trải qua thời bao cấp đến cơ chế thị trường. Còn kịch bản “Bên dòng sông Hiếu” kể về một câu chuyện có thật trong chiến tranh với nhiều mất mát, hy sinh và nỗi đau của những con người ở đôi bờ chiến tuyến, nhưng đã có cái kết đầy nhân văn trong thời bình.
Nghỉ hưu đã gần 15 năm, nhưng với một người cả đời chuyên tâm sáng tác như Thượng tá, nhà biên kịch Vũ Xuân Cải, việc nghỉ hưu cũng không tạo ra nhiều khác biệt. Ông có nhiều thời gian hơn để quan sát cuộc sống: Ngồi lâu hơn ở một quán trà trong ngõ để cảm nhận từng hơi thở cuộc sống chậm rãi trôi qua, dự một ván cờ tướng để nghe đối thoại của các cụ hưu trong công viên, lắng nghe ngôn ngữ đời sống vọng về từ một chợ cóc, từ một đám trẻ đang đá bóng, nô đùa hay câu chuyện của một bà cụ về những đứa con mỗi người một phận của mình… Để rồi, những thanh âm sống động ấy được ông đưa vào những kịch bản, tái hiện cuộc sống và những cuộc đời khác nhau trên sân khấu.
Trở lại những năm tháng tuổi trẻ, năm 1976, chàng thanh niên Vũ Xuân Cải đã công tác tại Đoàn Ca Múa Nhạc Kịch ở quê nhà Thái Bình được 6 năm thì trúng tuyển vào Trường Trung cấp Sân khấu Điện ảnh. Ông học hệ Trung cấp rồi liên thông lên Cao đẳng. Chính ông cũng không ngờ được rằng cuộc đời mình lại “rẽ lối”, được tuyển vào làm “hạt nhân” để thành lập Đội Kịch nói CAND và gắn bó với đơn vị đến suốt cuộc đời. Ban đầu Vũ Xuân Cải làm Đội trưởng Đội Kịch, quản lý và phụ trách diễn viên. Ông chính là cán bộ đã đi tuyển dụng các diễn viên đầu tiên như Trần Nhượng, Khương Đức Thuận, Mỹ Bình… về đoàn. Nhưng rồi niềm đam mê sáng tạo đã thôi thúc ông viết những kịch bản đầu tiên về đề tài an ninh trật tự, sau này được gọi là đề tài về hình tượng người chiến sĩ CAND.
Khi được hỏi, tại sao được đào tạo chuyên ngành đạo diễn, mà suốt cả sự nghiệp của mình, ông lại chỉ gắn bó với vai trò biên kịch, Thượng tá Vũ Xuân Cải chia sẻ: “Ngày 27/4/1982, Đoàn Nghệ thuật CAND Việt Nam được thành lập, trong đó có Đội Kịch nói CAND, lực lượng nghệ sĩ trong CAND còn mỏng. Vì thế, khi dựng vở diễn đầu tiên vào năm 1983 là vở “Nữ ký giả”, đơn vị còn phải đi “mượn” một số diễn viên như các nghệ sĩ Thanh Tú, Trọng Khôi, Đào Bá Sơn… Thật bất ngờ, vở diễn đã giành Huy chương Bạc hội diễn chuyên nghiệp tại TP Hồ Chí Minh năm 1985. Sau đó, do nhu cầu đơn vị cần những kịch bản mới về ngành để biểu diễn, tôi bắt đầu mày mò học viết kịch bản. Người thầy dẫn dắt tôi vào con đường mới mẻ này chính là nhà biên kịch Văn Báu, lúc bấy giờ đã nổi danh với vở kịch “Bản danh sách điệp viên” do Đội kịch của Công an Hà Nội dàn dựng, được khán giả thời đó vô cùng yêu thích. Anh Văn Báu là nhà biên kịch đầu tiên trong lực lượng công an. Anh rất yêu bộ môn nghệ thuật này và đã dẫn dắt, chỉ bảo cho tôi từ những điều nhỏ nhất. Thậm chí, nhiều lần anh còn mời tôi lên nhà anh ở Tống Duy Tân chơi, ăn cơm, để có thêm nhiều thời gian anh em trò chuyện với nhau. Tôi rất biết ơn Anh Văn Báu và tấm lòng, tình cảm đặc biệt của anh với tôi, với ngành và với bộ môn kịch nói chung, kịch CAND nói riêng. Anh Văn Báu đã truyền cho tôi ngọn lửa ấy, và tôi cố gắng nuôi dưỡng, gìn giữ nó mỗi ngày…”.
Với sự dìu dắt tận tình, từ “ngọn lửa nghề” của nhà biên kịch Văn Báu truyền cho, từ một đạo diễn được đào tạo chuyên nghiệp bài bản, Vũ Xuân Cải đã trở thành một nhà biên kịch. Năm 1990, kịch bản đầu tiên của ông là vở "Phía sau vụ án" được Đội kịch nói CAND dàn dựng năm 1990. Đây là tác phẩm chính thức đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời nghệ sĩ - chiến sĩ Vũ Xuân Cải, được khán giả đón nhận nhiệt tình. Sau đó, anh liên tục cho ra đời nhiều kịch bản ấn tượng khác như "Hồn hoa của núi","Phía sau vụ án", "Tình yêu đơn phương", "Những pho tượng bột”... Nhưng vở diễn đầu tiên gây được ấn tượng mạnh mẽ với khán giả, tạo nên tên tuổi Vũ Xuân Cải chính là “Đám cưới trong đêm mưa”. Năm 1996, tại Liên hoan Sân khấu nhỏ toàn quốc tổ chức tại Ninh Bình, Kịch nói CAND đã làm xôn xao giới sân khấu và khán giả bằng vở diễn "Đám cưới trong đêm mưa". Không chỉ có vậy, "Đám cưới trong đêm mưa" còn nhận được liên tiếp các giải thưởng như Huy chương Vàng Hội diễn toàn lực lượng Công an (1995); Giải B kịch bản Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam (1996); Giải thưởng tác phẩm xuất sắc của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam 1996.
Đến năm 2008, Đội Kịch nói CAND được đổi tên thành Đoàn kịch nói CAND. Nhà biên kịch Vũ Xuân Cải từ khi gắn bó với nghề biên kịch đã thường xuyên có những chuyến đi công tác dài ngày, thâm nhập thực tế sáng tác tại các đơn vị công an, trại giam, di tích lịch sử để có thêm nhiều dữ liệu sinh động vào tác phẩm. Việc làm này được ông duy trì cả sau khi đã về nghỉ hưu. Ông còn đứng ra tổ chức, kết nối để các nhà văn, nhà biên kịch của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam có nhiều cơ hội thâm nhập thực tế trong các đơn vị của CAND để lan tỏa hình ảnh đẹp về người chiến sĩ công an.
Nhà biên kịch Vũ Xuân Cải chia sẻ rằng, dù là loại hình nghệ thuật nào, thì điều ông quan tâm nhất vẫn là nghệ thuật phải hướng con người, đến điều thiện, đến lòng yêu thương. Người xem có thể thấy điều đó qua vở "Đám cưới trong đêm mưa", nhà biên kịch Vũ Xuân Cải đã xây dựng một kịch bản đầy kịch tính nhưng cũng hết sức nhân văn với tình huống Trung úy Hùng không bắt Duy trong ngày cưới, dù anh đã vô cùng vất vả sau bao tháng ngày “tầm nã”. Hay trong vở "Tình yêu đơn phương", người chiến sĩ công an đã mãi mãi giấu kín tình yêu của mình với người con gái để phá án thành công, trả lại công bằng cho chính chồng sắp cưới của cô gái mình yêu...
Nhà biên kịch Vũ Xuân Cải là tác giả thứ 2 của lực lượng CAND được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật (đợt V, năm 2022 - sau nhà văn Lê Tri Kỷ, đợt III, năm 2012). Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật thực sự là một vinh dự lớn lao đối với một người cầm bút. Ngoài ra, ông còn được Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tôn vinh là “Văn nghệ sĩ tiêu biểu của nghệ thuật Sân khấu Việt Nam” giai đoạn 1975-2005. Với bản tính khiêm tốn, kiệm lời, ông luôn ngần ngại khi nói về mình: “Nghề viết đã trao cho tôi cơ hội có được một vinh dự lớn lao. Cái ý nghĩ “nghề chẳng phụ người” luôn làm tôi cảm động và mong muốn chừng nào còn sức khỏe, tôi vẫn viết về cuộc đời, về những người chiến sĩ công an, những đồng chí, đồng đội của mình... Quan trọng nhất đối với tôi, là phải giữ được cho mình ngọn lửa để sáng tạo, để yêu cuộc sống, yêu nghề, yêu thương con người…”.