Trong tháng 10/2026, có một sự kiện điện ảnh rất được quan tâm, đó là bộ phim khoa học viễn tưởng “Tam Tinh Đôi: Quá khứ của tương lai” (tên tiếng Anh “Sanxingdui: The Future Past”) dài 100 phút, với hệ thống nhân vật hoàn toàn do AI tạo sinh, chính thức được Cục Điện ảnh Trung Quốc cấp phép trình chiếu thương mại. Không thể nói khác hơn, phim AI ra rạp là một đột phá bất ngờ và đầy hồi hộp. Khán giả có thể thích xem một đoạn video AI dài vài chục giây trên mạng, nhưng ngồi trong rạp xem một bộ phim dài 100 phút là trải nghiệm khác hẳn. Người xem phải tin rằng tác phẩm có câu chuyện đủ hấp dẫn, nhân vật đủ sức thuyết phục và hình ảnh đủ ổn định trong suốt bộ phim. Công nghệ có thể thu hút sự chú ý ban đầu, nhưng chưa chắc giữ được khán giả đến cuối.
Chính sự có mặt của “Tam Tinh Đôi: Quá khứ của tương lai” do hãng phim Bona Film Group sản xuất, đã kích thích các nhà điện ảnh Việt dấn thân vào dòng phim AI. Dự án phim AI dựa theo tiểu thuyết “Bãi săn” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, vừa được Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh -TFS công bố đầu tư, với sự cầm trịch của đạo diễn Hồng Phúc. Theo những người thực hiện dự án “Bãi săn”, công nghệ AI sẽ được sử dụng như một công cụ dựng hình, phục vụ cho việc kể lại một tác phẩm văn học đã được thẩm định, chứ không phải để sản xuất nội dung đại trà. Toàn bộ quá trình định hướng nghệ thuật và sản xuất nội dung hoàn toàn do đội ngũ chuyên môn đảm nhiệm, bao gồm từ chuyển thể kịch bản, biên tập, đạo diễn, lồng tiếng và dựng phim. Dự án “Bãi săn” có kế hoạch làm 15 tập phim, mỗi tập dài 3 phút và phát sóng trên màn ảnh Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh. “Bãi săn” có thể “săn” được khán giả, vì trào lưu phim AI vẫn đang hấp dẫn đám đông. Liệu “Bãi săn” có thể “săn” được giá trị nghệ thuật gì không, lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Những người tham gia dự án “Bãi săn” rất lạc quan bày tỏ: “Chúng tôi muốn định nghĩa lại rằng phim AI đúng nghĩa phải như thế nào. Đó chính là sự khác biệt giữa phim AI chuyên nghiệp và phim AI "rác" trên thị trường”. Làm sao huấn luyện các mô hình AI đủ sức duy trì sự đồng bộ cảm xúc cho một sản phẩm nghệ thuật? Câu hỏi ấy vẫn treo lơ lửng, thách thức và ám ảnh dài lâu cho mọi tham vọng “phim AI chuyên nghiệp”.
Phim AI tuân thủ theo cấu trúc câu lệnh (prompt) để thiết lập bối cảnh và khung hình, nên không dễ tạo ra phong cách nghệ thuật. Phim AI tràn lan trên mạng, đôi khi chỉ là sản phẩm của một cá nhân, phục vụ cho nhu cầu giải trí ngắn hạn. Thế nhưng, khi những nhà điện ảnh hào hứng nhảy vào cuộc đua sản xuất phim AI thì chắc chắn thị trường này có những thay đổi khó phân định được mất. Thời gian và kinh phí để có được một phim AI không nhiều. Chỉ trong vòng một năm qua, hàng triệu phim AI đã xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội. AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, tạo nhạc, dựng hình, xử lý hậu kỳ và tạo bản sao kỹ thuật số của diễn viên. Điều đó vừa tạo cơ hội nâng cao năng suất, vừa gây sức ép lên nhiều nhóm lao động sáng tạo. Một nghiên cứu công bố gần đây tự động hóa lao động trong Hollywood đặt sự phát triển của AI vào lịch sử dài hơn của những xung đột giữa công nghệ, quyền kiểm soát công việc và quyền lợi của người lao động. Nói cách khác, vấn đề không hoàn toàn mới, nhưng AI khiến những tranh luận ấy lan rộng sang nhiều công đoạn sáng tạo hơn. Nếu nhà sản xuất dùng AI để thay thế một phần công việc của họa sĩ bối cảnh, diễn viên phụ, người lồng tiếng hoặc nhân sự hậu kỳ, thị trường lao động sẽ thay đổi. Đặc biệt, người mới vào nghề có thể mất đi những công việc ban đầu vốn giúp họ tích lũy kinh nghiệm.
Cần sòng phẳng khẳng định, phim AI phù hợp với thể loại viễn tưởng, siêu thực, thuận lợi có được những đại cảnh hoành tráng và diễm lệ. Để làm phim AI, biên kịch cần đưa ra một kịch bản chi tiết và họa sĩ cần đưa ra một phác thảo nhân vật với những tiêu chuẩn riêng biệt về diện mạo và tính cách. Sau đó, những câu lệnh thuật toán sẽ thiết kế hình ảnh, giả lập chuyển động từ đi đứng đến khẩu hình. Và hậu kỳ không thể không có bàn tay con người trực tiếp thao tác vá lỗi cho những khung hình lệch lạc và những chi tiết thô kệch mà AI đã xây dựng. Nghe thì đơn giản, nhưng câu lệnh chỉ đem đến các nhân vật “có vẻ như người thật” với biểu cảm na ná nhau. Ở những đoạn cao trào cảm xúc, thuật toán giả lập bộc lộ ngay sự “giả”. Cho nên, sự nhất quán về mặt thị giác vẫn là hạn chế của phim AI. Muốn giảm thiểu hiện tượng “cứng” và “nhiễu” trong phim AI, nhà sản xuất phải bỏ ra hàng ngàn giờ thủ công tu chỉnh bù đắp hệ lụy “méo mó có còn hơn không” mà thành tựu công nghệ hào phóng ban phát cho tình yêu nghệ thuật.
Phim AI tràn lan trên mạng, đôi khi chỉ là sản phẩm của một cá nhân, phục vụ cho nhu cầu giải trí ngắn hạn. Thế nhưng, khi những nhà điện ảnh hào hứng nhảy vào cuộc đua sản xuất phim AI thì chắc chắn thị trường này có những thay đổi khó phân định được mất. Một nhóm làm phim nhỏ có thể tạo ra bản thử nghiệm về một câu chuyện cổ tích Việt Nam trước khi huy động kinh phí cho một dự án lớn. Một bảo tàng có thể dùng AI để minh họa các công trình đã biến mất. Một nhà nghiên cứu có thể trình bày giả thuyết về không gian văn hóa xưa bằng hình ảnh trực quan, miễn là nói rõ đâu là tư liệu và đâu là phần tái dựng. Thế nhưng, ứng dụng AI cho điện ảnh thì có nghịch lý: AI giúp sản xuất nội dung dễ dàng hơn, trong khi chính sự dễ dàng ấy có thể khiến các tác phẩm ngày càng giống nhau. Nếu mô hình được huấn luyện chủ yếu trên những hình ảnh, cấu trúc truyện và quy ước thẩm mỹ phổ biến, người làm phim rất khó lòng tránh khỏi sự lặp lại các khuôn mẫu ấy.
Nhà phê bình điện ảnh Hoàng Anh Tuấn cho rằng, sự phát triển mạnh của phim AI, đặc biệt là phim ngắn AI buộc chúng ta phải thay đổi ở mọi mắt xích trong đó có kiểm duyệt, xử phạt... Nhưng thay đổi thế nào thì điều chúng ta cần xây dựng không phải là một hàng rào ngăn AI bước vào điện ảnh, mà là một hệ sinh thái trong đó công nghệ được tự do sáng tạo nhưng con người vẫn phải chịu trách nhiệm về câu chuyện, bản quyền, đạo đức và những gì mình đưa đến công chúng. Vì vậy, chúng ta cần thích ứng với AI trong đó có cả Luật điện ảnh. Chúng ta không nên cấm đoán mọi câu chuyện về mặt tối của con người. Điện ảnh vốn có quyền nói về những điều đen tối. Nhưng phải phân biệt rõ giữa phản ánh cái xấu và cổ súy cái xấu, mô tả bạo lực và biến bạo lực thành thứ để giải trí, kích thích. Đó là ranh giới rất quan trọng. Nếu không trau dồi thì một lúc nào đó, giới điện ảnh chỉ là công cụ của AI chứ không phải người làm chủ AI. Nếu ai cũng có thể dùng AI, thì điều gì trong bộ phim là của riêng nhà sản xuất?
Phim thật đôi lúc ăn khách bằng chiêu trò hài nhảm của diễn viên, nhưng phim AI thì không thể. Phim AI không có bản sắc diễn viên, không có góc quay độc đáo và cũng không có cá tính đạo diễn. Giữa câu lệnh thuật toán và câu lệnh cuộc sống, phim AI giống như cánh diều chơi vơi, mà ai cầm dây mơ mộng cũng ái ngại ngọn gió ảo vọng. Cho nên, nhiều nhân vật trong giới điện ảnh chuyên nghiệp đã khước từ dòng phim AI. Nhà biên kịch Đoàn Tuấn (tác giả kịch bản phim “Chìa khóa vàng”, “Chuyện tình trong ngõ hẹp”, “Đường thư”, “Sống cùng lịch sử”, “Truyền thuyết về Quán Tiên”…) không chút ngần ngại thổ lộ: “Tôi biết có những hãng phim và nghệ sĩ luôn đón đầu xu thế mới, nhưng khán giả bây giờ luôn thông minh hơn các đạo diễn. Sức lan tỏa điện ảnh làm cho các nghệ sĩ càng giàu ảo tưởng. Những nhà làm phim nên tham khảo AI ở tất cả các khâu, nhưng phương án đầu tiên bao giờ cũng là phương án tồi nhất. Riêng tôi, xin được nói “không” với phim AI”.