Thong dong Kon Plông

Khi cái nắng chớm hè xuất hiện, từ thành phố Đà Nẵng, chúng tôi rủ nhau vượt đèo Lò Xo lên huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum như thể níu kéo thêm chút không khí lạnh của mùa xuân nơi cao nguyên lộng gió. Được ví là “Đà Lạt thứ hai” của Tây Nguyên, Măng Đen cuốn hút tôi không chỉ không khí mát mẻ, dễ chịu mà còn bởi cái tên nghe thật lạ. Vẻ đẹp nơi đây tuy không khiến người ta phải trầm trồ nhưng cũng đủ mộng mơ và bí ẩn để khám phá.

Măng Đen - đơn sơ mà bí ẩn

Thị trấn Măng Đen đón chúng tôi bằng không khí trong lành kèm một ít gió thổi ngược từ phía núi lạnh buốt vào sáng sớm. Trong chuyến xe đi cùng, một chị hành khách vừa trở lại Măng Đen sau khi ăn Tết ở quê từ Hà Tĩnh vào cho biết, mùa này thời tiết Măng Đen khá lý tưởng. Đây là thời điểm các loại hoa rừng, lan rừng, hoa sim bắt đầu khoe sắc.

Chỉ cần chạy xe máy lòng vòng quanh thị trấn, chúng tôi cũng có thể ngắm các loài đua nhau nở cùng những rặng thông xanh ngắt và hít hà mùi nhựa thông ngai ngái trong không khí mát lạnh. Tuy là thị trấn nhỏ mới phát triển trong những năm gần đây nhưng Măng Đen đã hình thành nhiều ngôi nhà biệt thự san sát dưới những đồi thông khiến chúng tôi cứ ngỡ như đang ở Đà Lạt.

ngheo.jpg -1
Làng du lịch cộng đồng Vi Rơ Ngheo nhìn từ trên cao.  

Theo người dân địa phương, tên gọi Măng Đen xuất phát từ cách người Kinh gọi chệch từ Tmang deeng - trong tiếng MNông có nghĩa là “vùng đất rộng lớn, bằng phẳng”. Với hơn 80% diện tích là rừng nguyên sinh lại nằm ở độ cao khoảng 1.000 - 1.300m so với mặt nước biển, thị trấn Măng Đen luôn giữ nhiệt độ trung bình quanh năm từ 18 đến 24 độ C, bốn mùa bao phủ sương mây.

Không chỉ có không khí trong lành và mát mẻ, Măng Đen còn có nhiều hồ và thác đẹp. Có lẽ vì vậy mà người dân gọi nơi đây gọi là mảnh đất “bảy hồ, ba thác” gắn liền với truyền thuyết thần Pling. Bảy hồ nước đó là: Toong Ly Leng, Toong Ziu, Toong Zơ Ri, Toong Săng, Toong Pô, Toong Đam và Đak Ke; và ba ngọn thác là thác Pa Sỹ, Đak Ke và Đak Pne. Trong đó, thác Pa Sỹ được hình thành từ 3 ngọn suối lớn nhất ở Măng Đen nên được gọi là Pau Suh, theo tiếng dân tộc, Rơ Măm có nghĩa là 3 nguồn suối chụm lại thành một dòng. Sau này tên thác được đọc chệch đi thành Pa Sỹ.

Hiện thác Pa Sỹ nằm trong Khu du lịch sinh thái văn hóa thác Pa Sỹ, được ví như một khu vườn địa đàng với vẻ đẹp nguyên sơ, mộc mạc tựa tâm hồn của người thiếu nữ vùng cao. Đây là điểm đến lý tưởng cho những tín đồ mê xê dịch và thích khám phá. Ngoài ra, Măng Đen còn có nhiều điểm tham quan thú vị khác như Quảng trường Măng Đen, Đức Mẹ Măng Đen, điểm săn mây Kon Plông, khu chợ phiên...

Khi đêm xuống, núi rừng bao phủ một lớp sương dày, đó cũng là lúc thích hợp để chúng tôi ngồi bên nhau trong những chiếc lều lúp xúp dưới những đồi thông, thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị núi rừng Tây Nguyên. Mặc dù cơm Lam là món ăn khá phổ biến của hầu hết đồng bào dân tộc nhưng cơm Lam vùng Kon Plông lại có hương thơm, dẻo, bùi của gạo nếp rẫy ngâm lẫn với lá dứa nên ăn không cảm thấy ngán.

Đặc biệt, cơm Lam sẽ ngon hơn khi ăn kèm với gà nướng Măng Đen. Thịt gà được tẩm ướp gia vị từ một số loài rễ, lá, mật ong và cây rừng Kon Tum tạo nên hương vị đặc trưng. Khi thưởng thức, chúng tôi chỉ cần chấm thêm muối tiêu hoặc muối hột lớn với ớt cay hay lá bét (một loại lá rừng ngọt với vị béo ngậy) là có thể nhâm nhi hết một chai rượu thuốc.

Nếu không hợp với thịt gà, du khách cũng có thể chọn món heo quay Măng Đen được quay trên bếp lửa than thơm giòn. Loại heo này được người dân địa phương thuần hóa và nuôi dưỡng bằng nguồn thức ăn tự nhiên của núi rừng nên thịt săn chắc và bổ dưỡng. Ngoài ra, Măng Đen còn có các món dân dã khác như cà đắng, măng chua rừng, bắp chuối rừng, thịt trâu nướng, thịt trâu khô…

Đậm đà bản sắc văn hóa Xơ Đăng

Bên cạnh cảnh đẹp thiên nhiên, muốn khám phá văn hóa đặc sắc của đồng bào nơi đây thì không thể không đến làng Vi Rơ Ngheo thuộc xã Đăk Tăng, huyện Kon Plông. Từ thị trấn Măng Đen, chúng tôi vượt hơn 40km, làng Vi Rơ Ngheo hiện ra giữa thung lũng yên bình. Nhờ lưu giữ những nét đặc trưng riêng về kiến trúc của một ngôi làng người Xơ Đăng cùng với những giá trị đặc sắc văn hóa truyền thống đã tạo nên điểm nhấn du lịch sinh thái của làng.

mang den.jpg -0
Du khách chụp ảnh check-in bên thác Pa Sỹ.

Ấn tượng đầu tiên khi bước vào làng Vi Rơ Ngheo với tôi là cảm giác gần giống với những bản du lịch cộng đồng ở Tây Bắc. Làng Vi Rơ Ngheo chủ yếu là người Xơ Đăng với 63 hộ dân, khoảng 270 nhân khẩu. Tuy là làng du lịch cộng đồng nhưng Vi Rơ Ngheo vẫn còn giữ được nét hoang sơ, mộc mạc của đồng bào Xơ Đăng. Những cổng nhà được dựng lên bằng gỗ, trên cổng gỗ hay hàng rào được trang trí bởi những giò phong lan bản địa. Đường đi lối lại được quét dọn sạch sẽ và ngăn nắp. Những chiếc sọt rác cũng được đan bằng tre thân thiện với môi trường. Đặc biệt, những cánh đồng lúa xen kẽ những ngôi nhà sàn truyền thống, cùng với nét văn hóa nguyên sơ được cộng đồng dân cư gìn giữ tạo ra khung cảnh tuyệt đẹp cho một ngôi làng nằm giữa núi rừng Tây Nguyên.

Bao quanh làng là những cánh rừng với hệ động, thực vật phong phú cùng hệ thống suối đá, thác, hồ, ruộng… chằng chịt. Những ngọn đồi mang vẻ đẹp tiềm ẩn của rừng thông 5 lá, rừng nguyên sinh và những đồi hoa đỗ quyên, hoa sim và hoa mua rực rỡ. Từ tháng 12 đến tháng 3 là mùa hoa đỗ quyên, hoa địa lan phủ khắp các ngọn núi. Đặc biệt, nơi đây được xem là “thiên đường” của hoa địa lan với một đồi lan bản địa và hoa được người dân trồng trên các bờ rào, cổng nhà. Hiện nay, cả làng Vi Rơ Ngheo trồng được khoảng 1.000 chậu hoa lan. Nếu đến Vi Rơ Ngheo vào những ngày đầu tháng 7, du khách còn được ngửi mùi thơm của lúa hòa quyện với mùi của núi rừng, phảng phất trong sự bình yên của buôn làng.

Khi hoàng hôn buông xuống cũng là lúc sương núi tràn về khiến làng Vi Rơ Ngheo bồng bềnh trong màn sương như chốn bồng lai. Những nếp nhà sàn cổ đơn sơ, mộc mạc nằm ẩn mình dưới thung lũng. Đặc biệt, sự hồn nhiên là nét đẹp rất cuốn hút của trẻ em làng Vi Rơ Ngheo. Sau bữa tối, chúng tôi quây quần bên bếp lửa le lói giữa tiết trời se lạnh của núi rừng để trò chuyện về sự tích lập làng cùng người dân bản địa bên cốc chè ấm nóng.

Người Xơ Đăng nơi đây khá hiền lành, mộc mạc và thân thiện. Họ chủ động bắt chuyện để giúp đỡ khi thấy khách đến làng. Chị em phụ nữ trong làng quây quần bên nhau nhóm lửa nướng cơm lam và nấu thức ăn để đón khách. Với nhiều loại hình du lịch đặc thù như: Du lịch văn hóa, sinh thái, dã ngoại, nghỉ dưỡng, làng Vi Rơ Ngheo hiện được xem là ngôi làng nguyên sơ, trong lành và sạch đẹp nhất tỉnh Kon Tum.

Sau hơn 3 năm thực hiện xây dựng làng Vi Rơ Ngheo trở thành làng du lịch cộng đồng, vào ngày 7/4/2023, làng Vi Rơ Ngheo được UBND tỉnh Kon Tum quyết định “Công nhận điểm du lịch: Làng du lịch cộng đồng Vi Rơ Ngheo”. Đây là làng du lịch cộng đồng thứ hai của huyện Kon Plông, sau làng du lịch cộng đồng Kon Pring. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra các làng du lịch “vệ tinh” cho thị trấn Măng Đen, từ đó đa dạng hóa các hình thức trải nghiệm cho du khách, đồng thời tạo không gian kết nối giữa các làng du lịch cộng đồng của các dân tộc thiểu số bản địa.

Với việc thực hiện tốt 3 tiêu chí “Nâng cao đời sống - Cải thiện môi trường - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương”, từ khi xây dựng làng du lịch cộng đồng đến nay, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Xơ Đăng ở làng Vi Rơ Ngheo từng bước được cải thiện, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được giữ gìn đã tạo nên bản sắc riêng hấp dẫn du khách gần, xa tìm đến.

Đoàn Hạo Lương

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.