Thơ chữ Nôm tại thư viện Đại học Yale Hoa Kỳ

Trường Đại học Yale là một trong các đại học uy tín và lâu đời nhất nước Mỹ. Yale là tư thục nhưng lại là một tổ chức phi lợi nhuận tại New Haven, bang Connecticut. Trường có diện tích rộng đến 368 ha (bao gồm cả khu thể thao và bảo tồn thiên nhiên). Năm 2014, trường có 12.336 sinh viên và 3.619 giảng viên.

Yale từng đào tạo các nhà khoa học lỗi lạc đạt tổng cộng 19 giải Nobel. Các Tổng thống Mỹ từ năm 1989 đến gần đây đều tốt nghiệp Đại học Yale. 

Hệ thống thư viện gồm 15 thư viện khác nhau: thư viện "Tưởng niệm Sterling", thư viện "Sách hiếm Beinecke", thư viện "Y khoa Harvey Cushing/John Hay Whitney" và thư viện "Lewis Walpole"... với khoảng 15 triệu sách in và văn bản điện tử, đặc biệt là thư viện "Beinecke" do  kiến trúc sư Gordon Bunshaft thiết kế, hoàn thành năm 1963 có thể tự động điều hòa nhiệt độ và độ ẩm chuẩn nhằm bảo vệ khoảng một triệu văn bản viết tay và 500 ngàn sách hiếm.

Riêng thư viện "Sterling" là thư viện trung tâm. Tại đây có thể tìm thấy nhiều sách cổ của nước ta, đặc biệt có nhiều sách, văn bản chép tay bằng chữ Nôm được lưu giữ như "Bạch Vân thi tập", "Lưu Bình Dương Lễ tân truyện", "Lưu Bình Dương Lễ sự tích diễn âm",  "Chinh Phụ tự tình", "Phan Trần truyện", "Phạm Công tân truyện", "Kim Vân Kiều tân tập", "Hoa Tiên kí", "Mai Đình Mộng kí", "Tỳ Bà Quốc Âm tân truyện", "Chúa Thao cổ truyện", "Vân Tiên cổ tích tân truyện", "Sãi Vãi", "Nhị Độ Mai tinh tuyển", "Gia Huấn Tử", "Âm Chất văn giải âm", "Thu Dạ Ngâm diễn âm"... 

Ảnh số hóa một số trang sách chữ Nôm của thư viện Sterling, Đại học Yale (Sterling memorial library).
Ảnh số hóa một số trang sách chữ Nôm của thư viện Sterling, Đại học Yale (Sterling memorial library).

Có cả những bài văn tế như "Văn Tế Tướng Sĩ trận vong", "Bài văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu"...

Có luôn cả các bài hát, bài phú dân gian viết bằng chữ Nôm như "Bài hát Nam Ai", "Bài hát Nam Thương", "Chổng mông gào chồng phú", "Hà Thành kỹ nữ oán tử", "Khuê Phòng ngâm khúc", "Thị Lựu trần tình khúc", "Lẳng lơ phú", "Quá Xuân Nữ phú". "Mẹ ơi con muốn lấy chồng", "Thi hỏng tự cười mình phú...".

Các sách chữ Nôm này phần lớn là do Maurice M. Durand chuyển giao.

Maurice M. Durand (1914-1966)  là người Pháp sinh trưởng tại Hà Nội, là học giả nổi tiếng về ngôn ngữ, văn học Việt Nam. Durand thông thạo Việt ngữ, chữ Hán và chữ Nôm. Cha ông là Gustave Durand, Trưởng phòng dịch thuật tòa án Hà Nội thời thuộc Pháp. Mẹ là bà Nguyễn Thị Bình, người Kiến An, Hải Phòng. Ông học tại Pháp, năm 1946 về Việt Nam dạy học rồi làm Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Khi trở về Pháp, ông dạy tiếng Việt tại École Pratique des Hautes Etudes của Đại học Sorbonne, Paris.

Các văn bản Nôm lưu trữ khá nhiều. Có thể một số bản văn này ở nước ta không còn giữ được vì chiến tranh, thiên tai...

Xem qua một lượt riêng tôi chú ý tập "Cung oán thi" của Nguyễn Huy Lượng. Nguyễn Huy Lượng (? - 1808) có bút hiệu là Bạch Liên Am Nguyễn tiên sinh, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (Tháng 12 năm 1954, Gia Lâm được sáp nhập vào thành phố Hà Nội).

Họ Nguyễn Huy ở Bắc Ninh xưa có nhiều người hiển đạt. Nguyễn Huy Lượng đỗ Hương cống đời Lê Trung hưng rồi được bổ làm quan Phụng Nghi ở bộ Lễ. Sau khi Quang Trung thắng quân Thanh, Nguyễn Huy Lượng làm quan triều Tây Sơn chức Hữu thị lang bộ Hộ (nên còn được gọi là Hữu Hộ Lượng), tước Chương Lĩnh hầu. Tác phẩm nổi tiếng "Tụng Tây Hồ phú" được Nguyễn Huy Lượng viết vào năm 1801, lúc vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản, con thứ của vua Quang Trung) làm lễ Tế Giao bên hồ Tây. Bài phú "Tụng Tây Hồ" là bài phú nổi tiếng. 

Sách "Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến" có viết: "...Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế, đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long... Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ, dân Hà thành hồi ấy gọi là "Phú ông Lượng". Trong khi người ta đổ xô đi tìm mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên". 

Thư viện "Sterling", ĐH Yale, nơi có lưu trữ các văn bản sách cổ của Việt Nam.
Thư viện "Sterling", ĐH Yale, nơi có lưu trữ các văn bản sách cổ của Việt Nam.

Sau khi nhà Tây Sơn mất, Nguyễn Huy Lượng bị bắt giam một thời gian ngắn. Khi có lệnh vua Gia Long triệu tập các quan lại Tây Sơn cũ, Nguyễn Huy Lượng trình diện và được bổ làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Khi vua tuần du, ông tháp tùng và soạn tác phẩm "Ngự đạo hành cung nhật trình" (ghi lại diễn tiến hằng ngày trên đường vua qua các hành cung). 

Riêng tập thơ "Cung oán thi" này không biết được Nguyễn Huy Lượng sáng tác vào lúc nào, chỉ biết bản hiện được lưu tại thư viện Yale có kí hiệu AB.549 lại chỉ ghi mấy dòng giới thiệu về tác giả ở trang đầu: "Bắc Ninh, Gia Lâm, Trung Nghĩa lý; Bạch Liên Am Nguyễn tiên sinh soạn; Quốc âm nhất bách thủ" (Bạch Liên Am Nguyễn tiên sinh ở làng Trung Nghĩa, Gia Lâm, Bắc Ninh, soạn 100 bài thơ chữ Nôm).

Cũng như "Cung oán ngâm", "Cung oán thi" tập trung vào đề tài nỗi hờn oán của các cung nữ héo mòn tuổi xanh nơi cung cấm nhưng lại độc đáo hơn ở chỗ: Nếu như với "Cung oán ngâm" ta nhìn nhận là Nguyễn Gia Thiều quả đã có tài  nêu suy nghĩ, cảm xúc thật ghê gớm khi chỉ tả nỗi lòng của một cung nữ thôi mà đã dùng những lời thơ tuyệt đẹp cùng nhiều điển tích, viết nên được tác phẩm dài đến 356 câu  thì ở "Cung oán thi", tài năng ấy của Nguyễn Huy Lượng đã tăng lên gấp bội: 100 bài bát cú tức tổng cộng đến 800 câu. Quả là kỉ lục đáng khâm phục.

Căn cứ hình thức, các trang chữ bản chép tay chữ Nôm tại thư viện Đại học Yale, ta có thể đoán được thời gian hình thành văn bản là trong khoảng nửa đầu thế kỉ XX. Cũng như nhiều văn bản chữ Nôm khác tại thư viện Sterling, tập thơ này có lẽ do Durand lúc đương chức Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ vì không có điều kiện chụp ảnh nên đã thuê các Nho sinh sao chép vào những cuốn vở kẻ ô của học trò.

Làm được điều này là nhờ kể từ khoảng cuối thế kỉ XIX, các thầy đồ nho đã học thêm chữ quốc ngữ. Ngày 22/2/1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán trong các công văn ở Nam Kỳ. Nghị định ngày 14/6/1880 cho giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ. Từ ngày 1/1/1882, tất cả văn bản chính quyền đều dùng chữ Quốc ngữ. Năm 1879, chữ Quốc ngữ được đưa vào giảng dạy, bắt đầu từ các thôn xã Nam Kỳ. Kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915 được xem là dấu chấm hết của lối học khoa cử bằng chữ Nho.

Họ thay bút lông bằng bút gắn ngòi lá thép. Dù là bút chấm mực hay bút máy có khoang trữ mực thì đều có chung một đặc điểm là ngòi bút có độ đàn hồi nên nét chữ dễ  mềm mại, uyển chuyển. Xem kĩ các chữ Hán, Nôm và quốc ngữ trên các bản văn giữ tại thư viện Sterling: đa phần được viết bằng bút gắn ngòi lá thép chấm mực nên nét bút uốn lượn bay bướm... lại được bảo quản tốt nên dù đã lâu, vẫn đọc rõ được những hàng chữ viết tay rất đẹp bằng mực xanh đỏ.

Đối chiếu với sách "Cung oán thi" do NXB Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1994: tập thơ này của thư viện Sterling có một số sai biệt về câu chữ. Có thể xem tập thơ là nguồn tư liệu quý dành cho các nhà nghiên cứu Văn học Hán Nôm.

Nguyễn Cẩm Xuyên

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.