Thiền sư Thích Nhất Hạnh có liên quan đến hai tác phẩm nổi tiếng?

Giới sân khấu TP HCM nói riêng và giới sân khấu cả nước nói chung, đều rất hân hoan khi tìm được người phóng tác vở kịch "Cậu đồng" từ nguyên tác của nhà viết kịch Molier. Tuy nhiên, vở kịch "Cậu đồng" cũng như ca khúc "Bông hồng cài áo" liên quan đến thiền sư Thích Nhất Hạnh như thế nào, là điều cần phải cân nhắc khi giới thiệu với công chúng.

Vở kịch "Cậu đồng" là một trong những tác phẩm đầu tiên làm nên thương hiệu Sân khấu IDECAF - TP. Hồ Chí Minh. Vở kịch "Cậu đồng" được đạo diễn Trần Minh Ngọc dàn dựng và công diễn vào năm 1998. Suốt 22 năm qua, vở kịch "Cậu đồng" vẫn thường xuyên tái diễn theo yêu cầu của khán giả.Vở kịch "Cậu đồng" gắn liền với tên tuổi diễn viên Thành Lộc. 

Dù theo thời gian, vài vai phụ của vở kịch "Cậu đồng" được thay đổi, nhưng vai chính vẫn do diễn viên Thành Lộc đảm trách. Phải thừa nhận, vai chính trong vở kịch "Cậu đồng" là một dấu ấn để diễn viên Thành Lộc được xưng tụng là "quái kiệt sân khấu".

Vở kịch "Cậu đồng" tung quảng cáo mới vào tháng 9/2020.
Vở kịch "Cậu đồng" tung quảng cáo mới vào tháng 9/2020.

Vở kịch "Cậu đồng" thu hút công chúng ngay cả trong mùa dịch COVID-19 vừa qua. Sau đợt giãn cách xã hội tháng 4/2020, sân khấu IDECAF vừa mở màn trở lại thì vở kịch "Cậu đồng" cũng đã cháy vé, khi giới mộ điệu nối nhau đến rạp để xem diễn viên Thành Lộc trổ tài. 

Tuy nhiên, điều đó không khiến những người thực hiện vở kịch "Cậu đồng" hớn hở bằng việc họ tìm ra người phóng tác kịch bản này. Tấm biển quảng cáo mới nhất của Sân khấu IDECAF vừa giới thiệu vở kịch "Cậu đồng" với dòng chữ lớn "Dịch giả và chuyển thể Việt hóa: Thiền sư Thích Nhất Hạnh". Sự hớn hở ấy bắt nguồn từ đâu?

Lâu nay, vở kịch "Cậu đồng" được dàn dựng dựa theo một tập kịch bản đánh máy không ghi tên tác giả, nên được mặc định là người vô danh cảm tác từ hài kịch Molier. Mới đây, giới sưu tầm sách cũ đã phát hiện cuốn sách "Cậu đồng" do Nhà xuất bản Hương Quê ấn hành tại Sài Gòn năm 1958. Trên cuốn sách chú thích "Việt hóa hài kịch Le Tartuffe của Molier". Người đứng tên cuốn sách "Cậu đồng" là Nhất Hạnh, trong lời tựa đã chứng minh hoàn thành việc phóng tác vào mùa xuân năm 1953.

Sự hân hoan loan báo "Dịch giả và chuyển thể Việt hóa: Thiền sư Thích Nhất Hạnh" của Sân khấu IDECAF có gì bất ổn không? Tìm được tác giả hoặc dịch giả cho một tác phẩm khuyết danh luôn là việc đáng mừng. Thế nhưng, khái niệm "dịch giả và chuyển thể Việt hóa" quá dông dài và hơi chệch choạc. 

Mặt khác, ai cũng biết Nhất Hạnh là bút danh của thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhưng không thể đồng nhất danh phận và đạo phận. Khi viết lách, thì chỉ có tác giả hoặc dịch giả Nhất Hạnh. Còn khi tu hành, thì chỉ có thiền sư Thích Nhất Hạnh. Hai tư cách khác biệt của một con người, phải được tôn trọng tuyệt đối. Trừ khi chính tác giả tự chỉnh sửa việc ký tên trên tác phẩm, ngoài ra không ai được phép thay thế hoặc hoán đổi bút danh "Nhất Hạnh" và "Thiền sư Thích Nhất Hạnh".

Lẽ ra, nỗi hân hoan "Dịch giả và chuyển thể Việt hóa: Thiền sư Thích Nhất Hạnh", cần gọn gàng và đúng đắn hơn là "Phóng tác: Nhất Hạnh". Hãy lưu ý, thời điểm công bố "Cậu đồng", thì vai trò của người phóng tác cũng chưa được xưng tụng là "Thiền sư Thích Nhất Hạnh".

Phải gọi "Cậu đồng" là sản phẩm phóng tác hài kịch Molier, vì "Cậu đồng" không hề đảm bảo 100% nội dung của nguyên tác "Le Tartuffe". Vở kịch "La Tartuffe" được nhà viết kịch vĩ đại nhất của nước Pháp - Molier (1622-1673) viết năm 1664. 

Ban đầu vở kịch "La Tartuffe" chỉ có 3 hồi, nhưng vừa công diễn đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt của các lãnh tụ tôn giáo. Bởi lẽ, nhà viết kịch Molier mỉa mai chính quyền và thần quyền lúc bấy giờ đã tạo ra những giá trị rởm cho xã hội. Suốt 3 năm, sau mấy suất diễn ồn ào, vở kịch "La Tartuffe" bị cấm trên toàn nước Pháp. Khi được tái diễn vào cuối năm 1667, nhà viết kịch Molier đã viết thêm hai hồi nữa cho vở kịch "La Tartuffe". 

Chính vì "sự bất kính" từng dậy sóng trong lịch sử của vở kịch "La Tartuffe", mà khi phóng tác "Cậu đồng" thì ông Nhất Hạnh đã có vài dòng phân bua ở lời tựa, rằng: "Chúng tôi chỉ muốn nêu ra đây một vài sự thực về tín ngưỡng, để những nhà nhiệt tâm về nền đạo chân chánh thấy rõ mà lo".Vở kịch "Le Tartuffe" (Bịp bợm) được biểu diễn ở các quốc gia khác với tên tiếng Anh là "The Impostor" (Kẻ mạo danh) hoặc "The Hypocrite" (Đạo đức giả).

Tương tự vở kịch "Cậu đồng", ca khúc "Bông hồng cài áo" cũng có liên quan đến thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ca khúc "Bông hồng cài áo" không phải nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ (1930-2009) phổ thơ, mà chỉ lẩy ra những ý quan trọng trong tùy bút "Bông hồng cài áo" dài hơn 2500 chữ của tác giả Nhất Hạnh viết năm 1962. Ca khúc "Bông hồng cài áo" được công bố lần đầu tiên vào năm 1967, ghi rõ: "Ý: Nhất Hạnh, soạn thành ca khúc: Phạm Thế Mỹ".

Ca khúc "Bông hồng cài áo" in lần đầu tiên.
Ca khúc "Bông hồng cài áo" in lần đầu tiên.

Ca khúc "Bông hồng cài áo" đã quen thuộc với người Việt hơn nửa thế kỷ qua. Mỗi dịp Vu Lan, ca khúc "Bông hồng cài áo" lại được hát vang lên trên môi những người hạnh phúc còn có mẹ, hoặc được hát thầm trong tim những người bất hạnh không còn mẹ. Ca khúc "Bông hồng cài áo" trở thành một phần nghi lễ của ngày Vu Lan. 

Không chỉ đề xuất việc cài hoa vào ngày Vu Lan, tùy bút "Bông hồng cài áo" còn đề cao hình ảnh vĩ đại của người mẹ và tinh thần hiếu thảo của người con: "Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: "Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!". 

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?". Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười "Biết gì?". 

Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: "Mẹ có biết là con thương mẹ không?". Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi, người lớn cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng".

Chính từ những ý ấy, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã viết ca khúc lay động công chúng đến tận hôm nay. Một ca khúc không chủ đích viết cho ngày Vu Lan, mà trở thành biểu tượng của ngày Vu Lan đối với người Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay những chương trình văn nghệ mỗi khi biểu diễn ca khúc "Bông hồng cài áo", vẫn có thói quen giới thiệu: "Ý thơ Thích Nhất Hạnh, nhạc Phạm Thế Mỹ". Đó là một thói quen cần chỉnh sửa, phải rành mạch là ý thơ của Nhất Hạnh, chứ không phải của Thích Nhất Hạnh. Chọn bút danh để đứng tên trên tác phẩm cũng là quyền nhân thân, được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ.

Tuy Hòa

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.