Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Xuân Diệu (1916-2016)

Thi sỹ Xuân Diệu hăng hái với mùa xuân

Thơ Xuân Diệu nồng nàn mối duyên tơ giữa con người và thiên nhiên: "Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn/Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân/Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần/Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất" (Thanh niên). Nhà thơ Thế Lữ trong lời tựa cho "Thơ thơ" (1938) của Xuân Diệu đã viết: "Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân". 

Các thi sỹ lãng mạn thuộc phong trào Thơ mới (1932-1945) nhìn chung đều giàu có cảm xúc về vũ trụ. Thiên nhiên tràn ngập trong thơ họ, đến mức đôi lúc nhìn vào một cái đĩa bình thường mà hình dung, tưởng tượng ra: "Lẵng xuân/Bờ giũ trái xuân xa/Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà" (Nguyễn Xuân Sanh - "Buồn xưa"). Xuân Diệu không là một ngoại lệ. Thơ ông, theo như sự cảm nhận của độc giả nhiều thế hệ, đầy chật niềm cảm hứng sống "vội vàng" và bung tỏa khát vọng giao hòa với thiên nhiên. Con người luôn luôn là một bộ phận hữu cơ của tự nhiên.

Thơ Xuân Diệu nồng nàn mối duyên tơ giữa con người và thiên nhiên: "Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn/Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân/Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần/Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất" (Thanh niên). Nhà thơ Thế Lữ trong lời tựa cho "Thơ thơ" (1938) của Xuân Diệu đã viết: "Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân".

Một nhận định hay ngang với Hoài Thanh - Hoài Chân trong "Thi nhân Việt Nam" (1941): "Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới". Trước Cách mạng, Xuân Diệu nổi tiếng trên văn đàn bởi hai tập thơ: "Thơ thơ" (1938) và "Gửi hương cho gió" (1945).

Nhà thơ Xuân Diệu và bìa cuốn Toàn tập Xuân Diệu.
Nhà thơ Xuân Diệu và bìa cuốn Toàn tập Xuân Diệu.

Xuân Diệu "hăng hái với mùa xuân", hiểu là trong thơ ông mùa xuân ngự trị, mùa xuân bất diệt, mùa xuân thường trực, mùa xuân là nơi bày tỏ khát vọng sống và là nơi lưu giữ cái đẹp của trần thế. Thi sỹ viết nhiều bài thơ về mùa xuân: "Nụ cười xuân", "Nguyên Đán", "Xuân rụng", "Xuân đầu", "Xuân không mùa". Đã đành. Nhưng trong nhiều bài thơ khác không trực tiếp về mùa xuân thì độc giả vẫn có thể cảm nhận được cái tinh thần "hăng hái với mùa xuân" của thi sỹ.

Trong bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu viết: "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần/Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa/Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân/Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/Xuân còn non nghĩa là xuân đã già/Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất/Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật/Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian/Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn".

Vội vàng sống, vội vàng hưởng thụ, vội vàng yêu. Thi sỹ Xuân Diệu là thế, lúc nào cũng cuống quýt, nói như bạn thơ Thế Lữ là "tham lam tình yêu". Một thi sỹ bé nhỏ về thể xác nhưng tâm hồn thì rộng mở vô biên, ông hình dung mình đủ dư thừa cái sức vóc: "Ta muốn ôm/Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn/Ta muốn riết mây đưa và gió lượn/Ta muốn say cánh bướm với tình yêu/Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều/Và non nước, và cây, và cỏ rạng/Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng/Cho no nê thanh sắc của thời tươi/Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!".

Đúng là thi sỹ Xuân Diệu hăng hái với mùa xuân. Nhưng đôi khi cái ham muốn kỳ quặc muốn được cắn vào "xuân hồng" có nguôi ngoai. Ấy là khi tự dưng con người cảm thấy cô đơn lẻ loi. Lúc đó thì "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Cũng có khi thi sỹ thay lời người khác mà thốt lên: "Mùa xuân khó chịu quá đi thôi/Cảnh đẹp làm em thấy lẻ loi".

Thi sỹ là một người tinh tế. Tất nhiên. Nhưng lắng nghe được: "Những tiếng ân tình hoa bảo gió/Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân" (Với bàn tay ấy) thì không phải ai cũng thẩm thấu hết được. Bất chợt lúc nào đó thi sỹ có cái cảm giác chống chếnh vì: "Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi" (Dối trá). Mùa xuân trong tâm cảm của thi sỹ như một cô gái đẹp, thơm tho và quyến rũ. Nhưng mùa xuân cũng như cô gái đẹp ấy luôn chuyển động, thoắt ẩn thoắt hiện. Vì thế đôi khi khiến thi sỹ hẫng hụt: "Xuân bước vội nhưng mà hương chẳng mất/Tôi với tay giam giữ ở trong nầy" (Lời thơ vào tập Gửi Hương).

Với con người thời hiện đại mới có cái cảm thức đặc biệt về cái đêm cuối tuần - đêm thứ bảy. Xuân Diệu gọi đó là "đêm thứ nhất". Vì sao? Vì có những chàng trai tưởng rằng trong lòng mình "sẵn kho xuân, quên cả túi không tiền" nên cứ háo hức chờ đợi những cuộc vui bất tận. Hóa ra thực tế không như thế. Nên tối về "Trên gác về trống lạnh cả lòng xuân" (Đêm thứ nhất).

Nhưng nói về tinh thần "hăng hái với mùa xuân" trong thơ Xuân Diệu trước 1945 thì phải ngưng lại đọc những bài thơ tiêu biểu nhất của thi sỹ: "Nụ cười xuân", "Nguyên Đán", "Xuân rụng", "Xuân sầu" và "Xuân không mùa". Tôi gọi đó là năm ngón tay (có "hoa tay") trên một bàn tay cầm bút viết về mùa xuân. Mỗi bài thơ là một mầm xuân, sắc xuân, hương xuân, giọng xuân.

Nhớ lại câu thơ mà có người bạo mồm bạo miệng gọi là khẩu khí phồn thực của Xuân Diệu khi thi sỹ ca lên: "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!". Với thi sỹ Xuân Diệu thì thiên nhiên cũng là một sinh thể, sinh linh. Hơn thế, mùa xuân tựa như một thiếu nữ trẻ trung, duyên dáng và đầy gợi cảm. Hẳn vì thế mà thi sỹ nhìn thấy một "Nụ cười xuân".

Thể thơ bảy chữ khiến câu thơ cứ như chầm chậm đến: "Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui/Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời/Sao buổi đầu xuân êm ái thế!/Cánh hồng kết những nụ cười tươi". Câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất làm sáng bừng lên cả không gian nhờ "những nụ cười tươi".

Thi sỹ nhìn thấy: "Mùa xuân chín ửng trên đôi má". Hẳn là đôi má thiếu nữ trẻ đẹp. Và rồi chính người thiếu nữ ấy tượng trưng cho mùa xuân: "Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người/Chưa từng hẹn đến-giữa xuân tươi/Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy/Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười".

Ai bảo Thơ mới là "một tiếng thở dài", ai bảo Thơ mới chỉ có nỗi buồn, sự cô liêu, ai bảo Thơ mới là tuyệt vọng sầu bi?! Cảm thức về thiên nhiên (trong đó có mùa xuân) đã tạo nên sự thanh khiết và nền nã của Thơ mới. Và độc giả cũng đã nhân đó mà tìm thấy cái nhã thú văn chương.

Nếu "Nụ cười xuân" có cái rạng rỡ của niềm vui sống thì "Nguyên Đán" là một bài thơ tứ tuyệt, có thể nói là hàm súc nhất về mùa xuân. Cái cấu tứ của bài thơ nằm ở câu thơ thứ hai: "Trong tôi xuân đã đến lâu rồi" dẫu cho: "Xuân của đất trời nay mới đến". Lại một lần nữa thi sỹ "chơi" thơ bảy chữ/bốn câu. Nó tạo nên một khối thống nhất, đọc lên thấy ngân nga: "Xuân của đất trời nay mới đến/Trong tôi, xuân đã đến lâu rồi/Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi/Trong vườn thơm ngát của hồn tôi".

Cảm thức về mùa xuân trong thơ Xuân Diệu trước năm 1945, có thể nói kết tinh trong bài thơ "Xuân không mùa". Cái cấu tứ: "Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng" trùng phùng với cấu tứ của bài thơ "Nguyên Đán", như vừa nhắc ở trên. Xuân đến một cách tự nhiên như tuần hoàn của trời đất: "Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều". Xuân không phải là một khách không mời mà đến. Xuân là một khách quen. Hơn thế là một khách nữ yêu kiều, đáng yêu. Xuân không chỉ bó hẹp trong ba tháng tính theo thời gian: "Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng/Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ/Chim trên cành há mỏ hót ra thơ/Xuân là lúc gió về không định trước/Đông đang lạnh, bỗng một hôm trở ngược/Mây bay đi để hở một khung trời/Thế là xuân. Trời chỉ ấm hơi hơi/Như nắm được một bàn tay son trẻ/Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé/Giữa mùa hè khi nắng biếc sau mưa/Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa/Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng".

Cách điệp "thế là xuân" làm cho hơi thơ tự nhiên như hơi thở vậy. Nó tiêu biểu cho thơ của thi sỹ Xuân Diệu lúc nào cũng hồn nhiên nên dễ cảm thông và chia sẻ. Đôi khi quá phấn khích thi sỹ như phải kêu to lên mới hả lòng hả dạ: "Xuân ơi xuân, vĩnh viễn giữa lòng ta". Thậm chí như là một đinh ninh: "Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng".

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Xuân Diệu vẫn được coi là một thi sỹ "hăng hái với mùa xuân". Ông đã viết tất cả chín bài thơ xuân: "Một ngày xuân", "Xuân", "Thơ tình mùa xuân", "Mùa xuân", "Xuân bên Hồ Tây", "Lá mùa xuân", "Mùa xuân trong rừng Cúc phương", "Một sớm mai xuân", "Sáng xuân sang xuân". Nếu thi sỹ luôn tự hào "thơ tôi giàu đôi mắt" thì mùa xuân giờ đây cũng ánh lên biêng biếc: "Một ngày xuân xanh tươi như mắt biếc" (Một ngày xuân).

Cảm thức về mùa xuân  trong lòng thi nhân giờ đây mới mẻ, tinh khôi: "Tôi đi giữa buổi đầu ngày, đi giữa/Buổi đầu xuân - đi giữa buổi đầu tiên/Như sáng nay cuộc đời vừa mới mở/Và ban đầu cây với gió cười duyên" (Xuân). Hà Nội có thắng cảnh Hồ Tây. Thi sỹ đã hơn một lần thưởng thức hương vị xuân Hồ Tây: "Bên cạnh Hồ Tây gió thổi xuân/Gió đưa thanh sắc cảnh thanh tân/Hương rơm quấn cỏ chen hương nước/Sau một đêm mưa, đất níu chân" (Xuân bên Hồ Tây).

Thơ Xuân Diệu, như người ta nói, không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh, mùi vị. Xuân Diệu như ai đó nói, là một thi sỹ mở lòng mình đến tận bao la. Xuân đến, thi sỹ cảm thấy: "Gió xuân thổi tới tận miền Nam" (Lá mùa xuân). Tứ thơ này ta bắt gặp trong bài thơ "Tôi muốn đến thăm khắp cả miền Nam". "Sáng xuân sang xuân" là bài thơ xuân hay nhất của Xuân Diệu từ sau 1945, như nhiều người thưởng thức thống nhất bình giá. Với thi sỹ Xuân Diệu thì cuộc đời này, thiên nhiên này bao giờ cũng rộng mở, hào hiệp và vui tuơi: "Sáng xuân trời đất mở liên hoan".

Thi sỹ như nghe thấy quanh mình những âm thanh của sự sống vốn chẳng bao giờ chán nản: "Thánh thót đâu đây tiếng núi sông/Như là khúc nhạc ở bên trong/Sáng xuân trời đất sang xuân đó/Anh đứng ru em ở cạnh lòng…". Với thi sỹ Xuân Diệu thì làm sao thiếu được "anh anh, em em". Nhưng dẫu cho nhiều lắm những "anh anh, em em" thì cả "đôi" đó vẫn cứ khao khát sống hòa điệu với thiên nhiên, nhất là mùa xuân - mùa của sinh sôi nảy nở và hi vọng, mùa của tình yêu. Xuân Diệu, như chúng ta thấy, xứng đáng là một thi sỹ "hăng hái với mùa xuân" và niềm thao thức với "xuân không mùa".                           

     Hà Nội tháng 12 năm 2015

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.