Thi pháp nghệ thuật trong thơ miền núi của Đỗ Thị Tấc

Tôi gặp lại nhà thơ miền núi Đỗ Thị Tấc trong cuộc hội thảo về văn học Việt Nam đương đại đầu tháng 10/2025. Vẫn dáng người mảnh khảnh, năng động, chị tung tăng chào hỏi bạn bè văn chương khắp lượt. Những năm qua, nhà thơ nữ - nhà nghiên cứu văn hóa này mải mê với công việc xây dựng Bảo tàng Văn hóa Thái ở Lai Châu.

Phát biểu trực cảm ngay tại hội thảo, Đỗ Thị Tấc tuyên bố: Không hề sợ trí tuệ nhân tạo AI, vì nó như một thư viện khổng lồ chứ không thể sáng tạo văn chương được như trí tuệ con người, nhưng điều đáng sợ nhất hiện nay trong giới văn chương là người ta hay nói xấu nhau, bôi bác tác phẩm của nhau nhiều quá và đấy là một tấn bi - hài kịch của văn chương đương đại. Ý kiến này của chị được nhiều nhà văn đồng cảm.

do-thi-tac.jpg -0
Nhà thơ Đỗ Thị Tấc.

Cho đến nay, ở vùng Tây Bắc, có lẽ nhà thơ Đỗ Thị Tấc là nhà nữ nghiên cứu văn hóa “Thái học” duy nhất. Cuối năm 2012, một công trình nghiên cứu của chị về văn hóa dân tộc Thái đã được trao giải thưởng của Hội Liên hiệp VHNT toàn quốc. Chuyện nữ nhà thơ về học cao học ở Trường Đại học Văn hóa (Hà Nội) đã trở thành giai thoại.

Đỗ Thị Tấc nói vui: “Mình vừa nhận được hai chục triệu đồng tiền giải thưởng là phải trả nợ hết ngay! Các ông thử tính xem, lương của tôi được dăm triệu bạc, đi học cao học ở dưới này, tuần nào cũng phải ngược về Lai Châu thăm mẹ, thăm con và sắp xếp công tác Hội… thì không phải vay mới là chuyện lạ! Cái số tôi nó thế, lúc sắp khánh kiệt thể nào cũng có người giúp đỡ. Hai lần trước tôi được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội VHNT các dân tộc thiểu số cho 2 tập thơ, cũng là lúc đang nợ đầm đìa, tôi phải cắm sổ đỏ vay dăm triệu đồng trang trải cho mấy chuyến công tác… ”.

Đưa giọng điệu và mỹ cảm người Thái vào thơ hiện đại

Đọc thơ của Đỗ Thị Tấc mới thấy các bài thơ của chị như những lát cắt tinh tế và sâu sắc về đời sống miền núi nơi hội tụ giữa thiên nhiên hùng vĩ, tâm hồn mộc mạc, và cảm xúc nguyên sơ của con người vùng cao. Qua đó, ta có thể nhận diện rõ nét phong cách thơ miền núi đặc trưng của Đỗ Thị Tấc giàu tính bản địa, đậm chất dân gian, chân thực mà không kém phần tinh tế trong biểu hiện tâm lý và cảm xúc con người.

Trong dòng chảy thơ Việt đương đại, tiếng nói từ miền núi với nhịp rừng, mùi khói bếp, tiếng khèn, vòng xòe, nhà sàn và nương rẫy không chỉ là bối cảnh mà đã trở thành một “môi trường thi pháp” riêng. Đỗ Thị Tấc là một trong những gương mặt tiêu biểu đặt bút trên cái nền ấy, đưa giọng điệu và mỹ cảm của người Thái vào thơ hiện đại bằng sự tự nhiên giàu bản sắc. Trong các bài thơ của mình, chị đã xuất lộ một hệ hình nghệ thuật vừa mộc mạc vừa tinh tế khi tình yêu không tách rời đời sống, vẻ đẹp phồn thực gắn với đạo lý bản mường, sự ấm áp tình người đan vào hiện tại và ký ức.

Tôi rất ấn tượng với bài thơ “Anh bơi trên đệm tìm em” của chị: “Cha mẹ nghèo/ Cho anh con dao/ Anh tra vào bao tre/ Về nhà em ở rể/ Nhà em/ bạc hũ/ Nhà em/ Trâu đàn, lợn lũ/ Ruộng gần, nương xa/ Quanh năm/ Đi dẵm gà/ Về dẵm quạ/ Anh vẫn vui lòng/ Anh vẫn say tình/ Ngủ đệm cùng em/ Đêm qua, em quên lời tổ tiên/ Ngủ đệm đừng nói chuyện tình xưa/ Anh bỗng sững sờ/ Trong vòng tay anh, em lại mơ về người tình cũ/ Thác lũ cuốn hồn anh/ Cuốn cơn khát trong tình anh/ Cuốn em đi rồi/ Anh bơi trên đệm tìm em/ Ôm phải tình xưa của người đàn ông khác”.

Bài thơ mở ra bằng giọng kể dân dã, như một lời tâm sự của người trai miền núi bước vào hôn nhân trong nghèo khó với cái hồn hậu trong lối sống giản dị. Nhưng phía sau cái hồn nhiên ấy la âbi kịch của lòng người khi tình yêu không đủ sức ngăn cản quá khứ và những ám ảnh cũ: “Trong vòng tay anh, em lại mơ về người tình cũ/ Thác lũ cuốn hồn anh…”.

Câu thơ “Anh bơi trên đệm tìm em” là một hình ảnh rất thơ, vừa kỳ lạ vừa dữ dội. Ở đây, chất thơ miền núi hiện ra qua ngôn ngữ mộc mạc mà đa nghĩa, qua cảm xúc nguyên sơ, không tô vẽ, không triết lý cầu kỳ chỉ có nỗi đau thật của một người đàn ông thật. Đỗ Thị Tấc trong bài này cho thấy năng lực diễn tả cảm xúc bản năng bằng chất liệu dân gian, tạo ra một hiện đại tính trong cái nền mộc mạc, bản địa.

Trong thơ Đỗ Thị Tấc, không gian không đơn thuần là phông nền mà là “cái nôi” tạo nghĩa với bản, mường, nhà sàn, nương, suối, rừng, trăng xuất hiện với tần suất dày đặc, kết liên thành một trường cảm giác, âm thanh, ánh sáng.

Trong bài thơ “Người ơi”, chỉ vài nét khắc họa đã mở ra thế giới bản địa: “Nhà tôi ở lưng đồi/ Bé nhỏ như nốt ruồi núi/ Chiếu hẹp đủ ngồi/ Bát con đủ rượu/ Tiếp khách đủ lòng”. Cấu trúc liệt kê “đủ” đưa ta vào mỹ học vừa ít vừa đủ, trọng nghĩa tình với một “chủ nghĩa tối giản” của miền núi, nơi giá trị được đo bằng lòng hiếu khách và câu hát giao duyên, không đo bằng độ sang trọng của vật dụng.

Tôi có mấy lần được ngắm Đỗ Thị Tấc ngồi hút thuốc lá và “giả đò” uống rượu ngang tàng như đàn ông (hoặc có thể chị cố vẻ làm ra thế), và thấy trên gương mặt thanh tú của nữ nhà thơ này phảng phất những nét hào hoa đang phát lộ ra như để khẳng định rằng, hồi còn trẻ, người nữ này cũng khá xinh đẹp và chắc chắn là có khối anh phải lòng muốn đi theo.

Thế cho nên, lúc tuổi đang còn thanh xuân, chị đã làm một bài thơ tình hay dữ dội với những câu thơ thật “gợi tình” như sau: "Người ta nhìn vào thắt lưng/ Trợn mắt/ Người ta nhìn hàng cúc bướm/ Lườm như muốn ăn thịt/ Người ta nhìn vào mắt/ Bỏ đi/ Không nói ra thì không chịu được/ Nói rằng thương/ Không phải/ Nói rằng nhớ/ Không đúng/ Nói rằng yêu/ Làm gì.../ Nói ra rồi cũng không chịu được/ Người như trăng no muốn vỡ/ Ra suối cởi thắt lưng/ Bung hàng cúc bướm/ Vắt lên đầu/ Lội dòng nước sâu/ Trốn vào nước/ Trăng vỡ loăng ngoăng/ Buồn cả ngực/ Tức cả mắt/ Buồn cả ngực/ Tức cả mắt/ Thế này thì chết mất/ Chẳng biết mai/ Người ta có sang".

Ở đoạn thơ này, một giọng nữ hiện lên táo bạo mà chân thực và sự trực ngôn thân thể không phải để phô diễn mà là mỹ học phồn thực có gốc văn hóa từ suối đến trăng rồi thắt lưng và hàng cúc bướm, đây chính là trường ẩn dụ về năng lượng sinh sôi.

Người phụ nữ là trung tâm cảm xúc của thế giới thơ

Thời gian nghệ thuật trong thơ Đỗ Thị Tấc mang tính chu kỳ theo mùa vụ gieo mầm, gặt hái và sinh nở. Trong bài thơ “Những người mẹ núi” chị khắc họa hình tượng này: "Cõng hạt giống trên lưng/ Địu con thơ trước ngực/ Qua ba cánh rừng/ Mẹ lên nương/ Mặt trời chưa thức/ Hạt giống gieo vào đất/ Con thơ ngon giấc lán nương/ Tra hạt xong ôm con/ mẹ hát/ Xin trời mưa cho hạt lên mầm/ Xin trời thương cho cây nhiều hạt Sống/ Nuôi lũ trẻ lớn lên thành trai bản gái mường/Mùa gặt/ Cõng hạt sống trên lưng/ Địu con thơ trước ngực/ Đầu mẹ đội nắng, mưa, sấm, chớp/ Qua ba cánh rừng/ Về bản cùng trăng/ Những người mẹ núi /Xin gì cho riêng mình".

Đây là khúc ca về tình mẫu tử và sức sống cộng đồng miền núi. Hình ảnh dáng đi của người mẹ núi không chỉ là lao động, mà còn là hành trình nối dài sự sống với hạt giống và đứa con là hai biểu tượng song hành. Ngôn ngữ thơ giản dị, nhịp ngắn, cấu trúc lặp khiến bài thơ mang nhịp điệu như một bài hát ru hay một khúc dân ca Mường - Thái.

Điều đáng quý là Đỗ Thị Tấc không tô hồng hiện thực. Người mẹ ấy chịu đựng nắng, mưa, sấm, chớp nhưng “Những người mẹ núi/ Xin gì cho riêng mình”. Câu kết đầy nhân văn, gợi tấm lòngvị tha, hiền hậu, giàu đức hy sinh, đồng thời thể hiện cái nhìn trân trọng của tác giả với người phụ nữ vùng cao như một biểu tượng của sức sống và niềm tin.

Điểm đáng chú ý trong thế giới thơ này, người phụ nữ vừa là trung tâm cảm xúc, vừa là trụ cột sinh kế, vừa là kho lưu trữ ký ức cộng đồng. Nhưng tình yêu trong thơ Đỗ Thị Tấc không chỉ là mơn man, nó có cả ghen tuông, khao khát và giận hờn nhưng đều đặt trong khuôn đạo lý bản mường.

Đọc thơ Đỗ Thị Tấc ta thấy sự đóng góp cho thi pháp nghệ thuật thơ miền núi với bản địa hóa mỹ cảm hiện đại khi đưa giọng điệu Thái vào tiếng Việt đương đại mà không “phỏng dân tộc học” với sự hòa nhập tự nhiên, làm chất liệu cho thi pháp. Thơ chị với giọng nữ chủ thể là tiếng nói nữ tự tin, giàu tự ý thức thân thể, song vẫn tinh khiết. Nhờ những yếu tố ấy, thơ Đỗ Thị Tấc vừa có cái nhìn sâu sắc về đời sống và tình yêu, vừa ấm áp tình người, như đề tài chị gửi gắm.

Đỗ Thị Tấc đã đem đến cho thơ Việt một giọng điệu riêng với nữ tính mộc mạc, thấm đẫm hồn núi rừng và văn hóa dân gian. Bài thơ “Anh bơi trên đệm tìm em” là tiếng thở dài của tình yêu nhục cảm; “Những người mẹ núi” là khúc ru về sự sống và hy sinh.

Các bài thơ đều vang vọng tâm hồn miền núi, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên, chân thật với cảm xúc. Đó chính là độ dày thi pháp của một tiếng thơ miền núi với giọng núi, hơi thở bản mường đã góp một sắc âm riêng đáng trân trọng vào hợp xướng thơ Việt hôm nay.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.