Thi nhân Việt Nam và cuộc tình không phai trong màu thời gian

Tháng 9/2020, dịch COVID - 19 vẫn chưa qua, nên ít ai nhớ đến dịp kỷ niệm 110 năm sinh nhật nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ. Thế nhưng, bài thơ "Màu thời gian" của ông thì vẫn còn lưu dấu trong lòng công chúng hôm nay và ngày mai. Và sẽ thú vị hơn, nếu độc giả biết rằng, bài thơ ấy là kết quả của một mối tình lãng mạn và vô vọng.

Nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ sinh ngày 10/9/1910 tại Hà Nội. Từ nhỏ, vượt qua gia cảnh chật vật, ông học rất giỏi. Từ năm 15 tuổi, Đoàn Phú Tứ đã có tác phẩm in trên Đông Pháp Thời Báo. Năm 27 tuổi, Đoàn Phú Tứ nổi tiếng với hai vở kịch "Ngã ba" và "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa". Hai bậc thầy đầu tiên của nền kịch nghệ Việt Nam là Vũ Đình Long và Thế Lữ đã không tiếc lời ca ngợi tài năng sân khấu của Đoàn Phú Tứ.

Thế nhưng, khi Đoàn Phú Tứ có mặt trong "Thi nhân Việt Nam 1932-1941" thì đồng nghiệp rất ngạc nhiên. Hai nhân vật chủ biên "Thi nhân Việt Nam 1932-1941" là Hoài Thanh và Hoài Chân cũng biết được sự thắc mắc của dư luận trong giới cầm bút, nên viết những lời giới thiệu Đoàn Phú Tứ khá mạch lạc: "Người ta vẫn nghĩ Đoàn Phú Tứ chỉ có tài viết kịch và diễn kịch. Nhưng thơ hay không cần nhiều. Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài, mà hầu hết là những bài đặc sắc. Ấy là một lối thơ rất tinh tế và kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm giác rất nhẹ nhàng. Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh của một đôi mẩu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán những mẩu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ".

Nhà thơ Đoàn Phú Tứ qua nét vẽ Nguyễn Đình Phúc.

Nhà thơ Đoàn Phú Tứ qua nét vẽ Nguyễn Đình Phúc.

Nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ góp mặt trong "Thi nhân Việt Nam 1932-1941" đúng một bài thơ có tên gọi "Màu thời gian" với bút pháp độc đáo: "Sớm nay tiếng chim thanh/ Trong vườn xanh/ Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình/ Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi/ Ta lặng dâng nàng/ Trời mây phảng phất nhuốm thời gian/ Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh".

Vì sao đang được chào đón nồng nhiệt ở giới kịch nghệ, Đoàn Phú Tứ lại chuyển sang mơ màng vần điệu thi ca? Vì một chữ tình. Đoàn Phú Tứ phải lòng con gái thứ năm của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là Nguyễn Thị Vân. Vừa đẹp người đẹp nết lại vừa biết chơi dương cầm, Nguyễn Thị Vân hiện ra đúng nghĩa một tiểu thư khuê các trong mắt kẻ si tình bần hàn Đoàn Phú Tứ.

Trước khi kinh tế sa sút vào những năm cuối đời, thì nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh từng là một quý tộc giàu sang. Do đó, ngôi biệt thự mà Nguyễn Thị Vân cư ngụ ở phố Thụy Khuê thực sự là chốn kín cổng cao tường đối với Đoàn Phú Tứ. 

Tuy nhiên, Đoàn Phú Tứ vẫn có cơ hội chiêm ngưỡng dung nhan người đẹp, nhờ quan hệ đồng nghiệp với nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938). Là chị em cùng cha khác mẹ, Nguyễn Thị Vân lớn hơn Nguyễn Nhược Pháp đúng 1 tuổi. Đoàn Phú Tứ nhiều lần lấy cớ đến thăm Nguyễn Nhược Pháp để được gặp Nguyễn Thị Vân.

Tình chàng ý thiếp giữa Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Thị Vân có ai biết không? Những người xung quanh đều biết, nhưng Đoàn Phú Tứ không dám mở lời, còn Nguyễn Thị Vân cũng không dám bước qua lễ nghi khoảng cách nam nữ lúc ấy vẫn mang nặng truyền thống phong kiến. Đoàn Phú Tứ chỉ có một hành động duy nhất là đứng nép bên cổng để nghe Nguyễn Thị Vân đánh đàn mỗi đêm.

Oái oăm thay, sau khi nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh qua đời thì hai chị em Nguyễn Thị Vân và Nguyễn Nhược Pháp cũng lâm trọng bệnh. Đoàn Phú Tứ hay tin liền đánh bạo đến tìm người trong mộng, nhưng Nguyễn Thị Vân lánh mặt vì không muốn xuất hiện với dung mạo tiều tụy. Nguyễn Thị Vân và Nguyễn Nhược Pháp đều qua đời năm 1938, chỉ cách nhau vài tháng. Đoàn Phú Tứ ôm nỗi hụt hẫng ấy mà viết bài thơ "Màu thời gian" vào năm 1939.

Sự khước từ gặp mặt lúc đau yếu của Nguyễn Thị Vân, được Đoàn Phú Tứ liên hệ với câu chuyện Dương Quý Phi cũng không nỡ để Đường Minh Hoàng thấy mình nhan sắc hao gầy, mà thành câu chuyện hư ảo trong bài thơ "Màu thời gian" lâm ly: "Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Nghìn trùng e lệ phụng quân vương/ Trăm năm tình cũ lìa không hận/ Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng/ Duyên trăm năm dứt đoạn/ Tình một thủa còn vương/ Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát".

Rõ ràng, cơn cớ của bài thơ "Màu thời gian" đã được Hoài Thanh và Hoài Chân tìm hiểu được hoặc phán đoán được, vì vậy trong cuốn "Thi nhân Việt Nam 1932-1941" mới có lời bình "hình ảnh của một đôi mẩu đời, nhưng hình ảnh mờ quá" như một cách nhắc khéo về mối tình câm giữa Đoàn Phú Tứ và Nguyễn Thị Vân.

Sau khi sáng tác bài thơ "Màu thời gian", Đoàn Phú Tứ cùng với Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đỗ Ngọc, Nguyễn Xuân Khoát thành lập nhóm Xuân Thu Nhã Tập lừng lẫy. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Đoàn Phú Tứ tham gia Đoàn Sân khấu Việt Nam và Hội Văn hóa Cứu Quốc. Năm 1946, Đoàn Phú Tứ trở thành Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Có một sự kiện ít người biết về nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ, đó là ông đã có ý thức chống quan liêu và tham nhũng từ rất sớm. Năm 1950, tại Việt Bắc, Cục trưởng Cục Quân nhu - Trần Dụ Châu đã tổ chức đám cưới rất xa hoa trong một ngôi đình lớn. Lúc ấy, Trần Dụ Châu là một Đại tá, rất oai phong. Thấy trong khách mời đám cưới có nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ, nên Trần Dụ Châu lập tức ra lệnh đọc một bài thơ chúc mừng. 

Sau mấy phút nén giận, Đoàn Phú Tứ đứng lên giữa quan khách và đọc to, nhấn nhá từng chữ uất nghẹn: "Bữa tiệc chúng ta sắp chén đẫy hôm nay/ Được dọn bằng xương máu của bao nhiêu chiến sĩ". Trần Dụ Châu tức giận, hét cận vệ xông vào hành hung Đoàn Phú Tứ. Nhiều người can ngăn, Đoàn Phú Tứ bỏ về và lấy tư cách Đại biểu Quốc hội để viết một đơn tố giác Trần Dụ Châu gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phiên tòa xét xử Trần Dụ Châu đã diễn ra sau đó, là vụ án hình sự đầu tiên của Chính phủ cách mạng Việt Nam.

Năm 1951, nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ quay lại Hà Nội và sống bằng nghề dạy học. Trong các học trò của Đoàn Phú Tứ, có nữ sinh Nguyễn Thị Khiêm ở phố Lãn Ông rất hâm mộ thầy giáo. Dù nhỏ hơn Đoàn Phú Tứ đến 21 tuổi, nhưng Nguyễn Thị Khiêm vẫn một mực xin phép gia đình cho làm vợ của tác giả "Màu thời gian". Đám cưới của họ diễn ra mùa thu năm 1952, và nhanh chóng sinh đôi một cặp con trai. 

Vì nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ đột ngột rời bỏ chiến khu, nên lý lịch của ông bị nhiều người dòm xét. Vợ chồng Đoàn Phú Tứ sống rất kham khổ trong căn phòng nhỏ được người quen cho mượn ở phố Châu Long, rồi dọn ra bãi An Dương ven sông Hồng. Để có tiền phụ vợ nuôi con, nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ phải dịch sách, với bút danh Tuấn Đô. 

Thế nhưng, dù là dịch để cốt kiếm cơm độ nhật, nhưng tài năng thiên bẩm của Đoàn Phú Tứ đã giúp công chúng Việt Nam có được nhiều danh tác chuyển ngữ như "Đỏ và đen" hoặc "Người thợ cạo thành Xê Vin". Nổi bật nhất là những vở hài kịch tầm cỡ thế giới đều đã được Đoàn Phú Tứ dịch sang tiếng Việt như "Kẻ hà tiện", "Kẻ ghét đời", "Trưởng giả học làm sang", "Nhà búp bê"…

Nhà thơ - nhà viết kịch Đoàn Phú Tứ là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông mất ngày 20/9/1989, sau khi vợ ông - bà Nguyễn Thị Khiêm qua đời được 2 tháng. Bài thơ "Màu thời gian" của Đoàn Phú Tứ vẫn trường tồn đến hôm nay, và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành một ca khúc quen thuộc với công chúng.

Tuy Hòa

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.