Thêm một tình yêu Xuân Diệu

Cách nay 30 năm, vào một chiều mùa đông xám xịt, rét cắt da, tôi tất tả bươn lên chuyến xe ca cuối cùng ở một phố nhỏ Thái Nguyên, mong kịp về Hà Nội để đưa tang nhà thơ Xuân Diệu. Tôi muốn được về tiễn ông như tiễn một người nổi tiếng mà lâu nay mình thường tự hào là đồng hương, theo cách nghĩ “nghĩa tử là nghĩa tận”. Bởi ông cùng quê Trảo Nha (Hà Tĩnh). Còn tôi chỉ là một công dân vô danh cùng xã, đang làm anh cán bộ văn hoá ở một xí nghiệp vừa di chuyển từ Thủ đô lên, đang tập tọe chuyện văn chương. 

Ngày còn nhỏ, tôi cũng mới chỉ gặp nhà thơ đâu như vài ba lần chi đó. Mà lần nào cũng để lại những cảm xúc mơ hồ. Nghĩa là cũng chẳng biết nhà thơ Xuân Diệu nổi tiếng thế nào và vì sao mà nhà thơ nổi tiếng.

Còn lần này, tôi sẽ được biết về tình yêu người đời dành cho ông. Mà là người Hà Nội, người Thủ đô.

Đám tang nhà thơ đã phải đợi đến mấy ngày. Nghe bạn bè người Hà Nội của tôi nói rằng, ngoài việc chờ người bạn chí cốt của ông, nhà thơ Huy Cận đang công công tác ở châu Phi chưa về kịp, Ban tổ chức lễ tang còn chưa quyết định được sẽ an táng nhà thơ Xuân Diệu ở chỗ nào? Văn Điển hay Mai Dịch? Nghe đâu, chuyện phải trình lên Thủ tướng. Rồi lại nghe: Xuân Diệu nằm đâu cũng là nằm trên đất mẹ. Những người bạn công nhân của tôi thì thào, rằng, câu đó là của cụ Đồng (Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Trong đợi chờ, trong rét buốt, tôi nhắn lên cơ quan xin nghỉ có việc riêng rồi lang thang chờ lễ tang nhà thơ cùng người bạn vong niên là hoạ sĩ Chu Hoạch, người mà tôi và vài bạn khác nữa từng giúp anh tá túc tại Thái Nguyên hồi anh nghỉ việc minh hoạ ở Báo Tiền phong. Hai anh em dặt dẹo trong cái lạnh khủng khiếp của mùa đông năm ấy, từ góc phố này đến góc phố khác. Chu Hoạch uống rượu vặt, còn tôi gặm bánh mì khô. Tới đâu cũng nghe chuyện về đám tang Xuân Diệu. Ai cũng hào hứng như mình là thi sĩ, từ bà bún ốc béo tròn tới bác xích lô đen đúa. Ngà say, Chu Hoạch lôi từ túi của anh, cuốn sổ tay, xé đưa tôi một tờ, nói: “Đọc, đọc bằng mắt, dự đám tang Xuân Diệu nên đọc bài này mà thương đến kẻ cô đơn, tớ viết hồi tháng 5”:

Có một nấm mồ không đáy:
thời gian
Có một nỗi buồn không tan trong thời gian
không đáy
Đó là nỗi buồn của chiếc giày chân trái
Không tìm thấy chiếc giày chân phải
Để thành đôi.

Tôi nói với Chu Hoạch rằng, chuyện này anh nên nói về lứa đôi hay lý tưởng gì đó, chứ ở đây, đám tang Xuân Diệu thì dính dáng gì. Anh bất ngờ phẩy tay rồi bỏ mặc tôi với mấy đồng nợ quán mà ngật ngưỡng sang phía bên kia hồ Ha Le (hồ Thiền Quang). Có thể anh cho là tôi không hiểu thơ anh, hoặc nhớ ra, đã đến giờ lao động.

Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh dâng hương tưởng niệm nhà thơ Xuân Diệu tại Nhà lưu niệm Xuân Diệu ở quê hương ông, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh dâng hương tưởng niệm nhà thơ Xuân Diệu tại Nhà lưu niệm Xuân Diệu ở quê hương ông, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Hồi này, anh đang đầu quân cho Công ty Vệ sinh - Môi trường Hà Nội, làm cả nghề móc cống. Có thêm thu nhập độc hại để nuôi vẽ và thơ và rượu. Chu Hoạch đi rồi tôi mới thật bơ vơ trong đám tang. Người đông chật kín con phố. Tôi đứng xa, cố nghển lên để nhìn xe tang phủ đầy hoa đang chậm chậm lăn bánh, bên cạnh là những người lao động áo quần tùm hụp, xo ro vì lạnh cóng. Chưa hôm nào tôi thấy lạnh như thế và bơ vơ như thế giữa một đám đông đang đưa tiễn một con người về thế giới bên kia. Đám tang một nhà thơ đông nhất ở Hà Nội mà tôi từng biết. Toàn những người tự giác mà đến với nhà thơ. Đứng chật đường.

Tôi, với cái cảm giác bị ông bạn say rượu bỏ mặc giữa biển người, một mình dõi theo đám tang của một người thân thuộc trong tâm tưởng mà xa xôi quá trong thực tiễn, thấy mình rõ ràng là hạt bụi cô đơn. Thấy mình già đi, nghèo khổ quá, như vừa bị mất cắp. Hụt hẫng trong lòng. Sau này, khi đọc cảm tưởng của các nhà văn cùng thế hệ trong sổ tang, thấy nhà văn Nguyễn Tuân chỉ ghi độc một dòng ngắn ngủi: “Nhà thơ Xuân Diệu mất đi, tôi thấy như có  mang theo một quãng đời văn của tôi…” thì lúc ấy, tôi mới thấm thía được việc ra đi của Xuân Diệu đã mang theo biết bao quãng đời văn của biết bao người, như tôi, như Chu Hoạch, đã đến tiễn nhà thơ. Bởi sự ra đi của ông đã lấy đi của họ một quãng đời văn, một tình yêu văn chương trong trẻo giữa ngày giá, lương, tiền khốn khó. Và cũng trong cái lạnh giá ngày đông năm đó tôi mới thấy buốt tim khi đọc bài Viếng mộ Diệu của nhà thơ Huy Cận,  khi bạn đã xuống mồ: Lạnh lắm trời ơi! Lạnh lắm không?/ Cận về không kịp, chỉ còn trông/ Đất vàng một nấm hoa vừa héo/ Nằm một, giờ đây Diệu lạnh lùng...

Nghĩ đến cảnh nằm một của bạn mình dưới mộ, bởi khi xưa, Huy Cận từng nguyện nằm chung:

 ...Một mai ta chết xin chôn
Hai ta sát cạnh xương luồn qua xương
Đất già lạnh toát đêm trường  
Huy-Xuân nằm dệt tấm thương muôn đời...

Huy Cận đã suýt thực hiện được lời nguyện đó. Ông hồi ký: Ngày Diệu mất, lúc 7h40 phút ở Hà Nội thì đúng lúc ấy ở Dakar (Senegan) là 12h40 trưa, tôi bị xuất huyết nặng. Thần giao cảm cách: nhân điện của Diệu truyền thông cho tôi giây phút ấy. Ngày 19-12-1985 về đến Paris được Sứ quán ta báo tin Diệu mất, tôi sửng sốt, bàng hoàng, máu vẫn chảy vì xuất huyết nặng ở mũi. Tôi và con tôi (cháu Vũ) trong cơn đau đớn, cố trấn tĩnh để đi đổi vé máy bay về cho kịp đám tang, nhưng ngày 23 tôi về thì đã chôn Diệu ngày 21 rồi. Từ Paris, tôi đánh 10 bức điện về Hà Nội (cho Hội Nhà văn, cho Liên hiệpVHNT, cho Bộ Văn hoá, cho anh Tố Hữu...) đề nghị chờ tôi về hãy chôn bạn tôi, nhưng không kịp...

Từ đám tang Xuân Diệu ngày ấy, tình yêu đối với nhà thơ quê nội Trảo nha, nay là thị trấn Nghèn cứ thêm mãi trong tôi. Ngày làm Địa chí Can Lộc, ông Thái Kim Đỉnh đã lấy từ một trang báo ngoại văn những nhận xét  của Mi-rây Giăng-xen, một học giả lớn nước Pháp về Xuân Diệu khi bài viết trong tập sách đã lên khuôn:  “...Một nhà thơ là rễ cây và gió-là đất và nhạc. Khi một nhà thơ lớn đi xa, nhân dân của nhà thơ khóc trước hết. Và nhân dân các nước sẽ dần khám phá ra anh, có khi là nhiều năm sau, có khi những thế kỷ sau, và một ngày nào đó sẽ biết được cái chết của anh và nghe được tiếng nói của anh. Xuân Diệu là rễ cây và gió, là đất và nhạc…”.

30 năm sau, cũng vào một ngày cuối đông lạnh giá năm 2015, tôi quả thật đã được gặp nhà thơ của lòng ngưỡng mộ. Thêm một tình yêu Xuân Diệu, khi tôi, lần này với tư cách những người con của Trảo Nha - Thị trấn Nghèn, tổ chức lễ tưởng niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ. Các quan chức văn hoá của tỉnh, của huyện cùng bà con nội thuộc đã đông đảo dâng hương tại nhà lưu niệm Xuân Diệu nơi xóm tôi. Rồi về hội trường lớn của thị trấn làm lễ tưởng niệm. Có diễn văn khai mạc long trọng.

Các cô giáo, các em học sinh đọc thơ Xuân Diệu, rồi các nhà thơ nhà văn đọc thơ tình  Xuân Diệu. Và linh diệu thay, trong những người thân của nhà thơ về quê lần này có vợ chồng cháu Cù Huy Xuân Đức, cháu đích tôn của nhà thơ Huy Cận. Cháu Đức đưa tặng tôi bài viết “Nhớ về một người cha-Xuân Diệu” do bố mình viết từ Chicago, Hoa Kỳ. Trong đó có đoạn: “Tôi được ông (Xuân Diệu) nuôi làm con vì ông không có gia đình riêng. Chị Lê Chiều, con o Trà, em ruột bố tôi (Cù Huy Cận), ở cùng nhà thời gian đó kể lại: “Vũ mới mấy tháng tuổi, đường ruột kém nên bác Diệu luôn dặn mọi người giữ lại bình sữa để xem Vũ uống hết đến đâu. Và giữ lại phân để bác Diệu về tự tay kiểm tra...”. Đứa con nuôi trong tình thương thật sự của Xuân Diệu ngày ấy đã có hai con, tức là lúc sinh thời Xuân Diệu đã “lên chức” ông nội. Cù Huy Xuân Đức, tên thằng cháu do Xuân Diệu đặt:

Cu Đức

Thằng Đức từ đâu đến với ông
Trên tay âu yếm mẹ mi bồng
Biết gì đâu có, hiền như đất
Em ngủ như là một đoá bông

Tuổi mới năm ngày bé tý hon
Chao ôi nhỏ xíu nắm tay tròn
Ngủ thôi bất kể trời hay đất
Hai cái tai dày, cái mũi con                       

Ấy thế mà trông rất hẳn hoi
Hoàn toàn số phận một con người
 Là mày, là nó, không ai khác
Thương bé người đây, chính nó thôi.                     

Từ lúc nâng niu bố Vũ mày
Đang còn ẵm ngửa, bú bằng tay
Đến nay lại đến thương con Vũ
Ôi! Cuộc đời, hoa, chim, bướm, cây.

Tôi ôm chặt Cù Huy Xuân Đức, người mà Xuân Diệu đã đặt tên, rồi truyền lại một tình yêu, hồ hởi trước sự sinh sôi của vạn vật, như cuộc đời, hoa, chim, bướm, cây mà rưng rưng, thảng thốt thấy Xuân Diệu đang hiện hình. Đỡ xót lòng, hụt hẫng tuyệt vọng khi đọc Chế Lan Viên viết trên xe 30 năm trước tiễn Xuân Diệu về cõi vô cùng: “Chuyến xe sau sẽ không còn Anh nữa/ Xe vẫn chạy nghìn đời chỉ vắng Anh thôi/ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng qua chuyến trước/ Những chuyến xe không có khứ hồi”.

Đức nói trong rân rấn nước mắt: “Hôm kia, vợ chồng con có đến thăm ông Cát (Hoàng Cát - người em nuôi của Xuân Diệu). Ông đã qua trọng bệnh rồi, nhưng có lẽ cũng khó... Chiều nay chúng con đi vãng lăng tổ của họ Ngô Trảo Nha...”.

Không có chuyến xe khứ hồi nào chở Xuân Diệu bằng xương bằng thịt về với chúng ta, nhưng hôm nay, linh hồn ông như đã có mặt ở đây, khi tình yêu Xuân Diệu còn vẹn nguyên trong lòng người sống. Với tôi, với Đức, với tất cả bà con họ mạc, với bạn đọc gần xa, càng ngày càng thêm yêu nhà thơ lớn. Như đã có một chuyến xe khứ hồi đưa Xuân Diệu về với chúng tôi khi trong lòng trọn vẹn một niềm yêu. Lại thấy ấm lòng.

Trảo Nha, 12-2015

Trần Đắc Túc

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.