Thêm một cách nhìn về tập “Bức tranh quê”

Tập thơ “Bức tranh quê” là tác phẩm tiêu biểu của nữ sĩ Anh Thơ, ngay khi ra đời, đã được giới văn chương đánh giá cao. Năm 1939, tập thơ được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn, giải thưởng danh giá của thời điểm đó. Thoạt đầu, “Bức tranh quê” chỉ có 30 bài, sau hơn một năm viết bổ sung, 1941, Nhà xuất bản Đời Nay cho ấn hành với 45 bài. Tên tuổi nhà thơ Anh Thơ càng có tiếng vang trong văn đàn và công chúng bạn đọc. 

Trải qua một thời gian dài, đã có nhiều công trình nghiên cứu văn học, nhiều bài viết về tác phẩm này. Nhưng hầu hết chỉ là nghiên cứu chung, hoặc viết riêng lẻ về một số bài thơ trong tập. Nhà thơ Anh Vũ đã dụng công viết bình 45 bài thơ, mỗi bài thơ thành một bài bình, bài cảm riêng. Riêng bài thơ “Sang thu”, Anh Vũ đã bình thành ba bài, mỗi bài viết theo cách cảm, cách nghĩ khác nhau, tập hợp thành tập tiểu luận, phê bình “Bút lực Bức tranh quê”, 276 trang, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý 3 năm 2016.

Phải nói sự ra đời thi phẩm “Bức tranh quê” khá đặc biệt. Khi nhận được tin cuộc thi thơ của Tự Lực Văn Đoàn chỉ còn hạn một tháng, với sự thôi thúc nội tâm, cứ mỗi ngày viết một bài thơ, mà lại còn viết giấu giếm không để người cha biết mình làm thơ, nữ sĩ đã hoàn thành tập thơ để kịp gửi về  dự thi. Ban tổ chức cuộc thi thơ  Tự Lực Văn Đoàn đã trao giải chính thức cho tập  “Bức tranh quê”, mà tác giả là cô gái bên dòng sông Thương mười tám tuổi xanh.

Tác giả Anh Vũ bên tác phẩm điêu khắc chân dung nữ sĩ Anh Thơ tại Vườn Bụt năm 2012.
Tác giả Anh Vũ bên tác phẩm điêu khắc chân dung nữ sĩ Anh Thơ tại Vườn Bụt năm 2012.

Anh Vũ có một phần đời gắn với sông Thương, hẳn có sự thán phục nữ sĩ từng sống trên mảnh đất mình ở, nên những nghĩ, những cảm về tập thơ “Bức tranh quê” cứ ào ạt tuôn chảy. Bài thơ “Chiều xuân”, mở đầu tập thơ, với những câu thơ thật đẹp “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”, Anh Vũ  cảm nhận: “Bức tranh đầu tiên, lấy bến đò làm khung cảnh, có quán tranh, có hàng xoan, có con đò dầm dãi chờ khách… tất cả làm cái nền, cho tiếng dịu nhẹ của hoa xoan trút cành, từng đợt cánh tím rơi rơi, lại rơi rơi”.

Rồi “Nữ sĩ tác giả lúc đó chưa đầy hai chục tuổi đời đã có cái nhìn chân xác của bậc lão nông già dặn mới nhận ra cái màu đồng lúa xanh rờn và ướt lặng của sắc lúa dậy thì trong mưa thuận gió hòa”.

“Bức tranh quê” là tập hợp những bài thơ mô tả cảnh sắc thôn quê bốn mùa cùng với cuộc sống làm ăn của con người, thì ai cũng rõ. Nhưng để hiểu cho cặn kẽ từng bức tranh phong cảnh, như bài thơ “Mưa”, Anh Vũ đã phát hiện ra cái đẹp thuận lý của nó: “Mưa có thể coi là một trong những bài thơ đạt tới vẻ đẹp toàn bích của Bức tranh quê. Dung dị mà đầy đặn. Thoáng đãng mà thắm thiết. Quen thuộc mà chả phải ai cũng nhìn ra”.

Hai câu thơ mở đầu bài thơ “Mưa”, nữ sĩ viết: “Tre lả lướt nghiêng đầu cho nước gội/ Cau thẳng mình dang lá đón mưa rơi”. Anh Vũ phát hiện ra vẻ đẹp bên trong của câu thơ: “Thật ra kiếp phận cây, cũng nhiều nét tương đồng đời người. Cau và tre như người nam nữ song song liền kề. Được cơn mưa tưới tắm xui giục, thì sao cả đôi không muốn giao hòa âm dương cùng nhau”.

Và còn bình thêm: “Trong cơn mưa nhuần thấm lẽ âm dương hòa hợp, tượng hình phồn thực chập chồng. Đủ tiến lùi, lên xuống, bù đắp, là cặp thơ tiếp theo tả rất thật…”. Anh Vũ còn bình tiếp: “Cảm thông nỗi người vất vả trong mưa, mới hiểu được mấy cảnh thơ về loài vật: Con gà, con ruồi, con nhặng, con lợn, đâu phải là thêm thắt cho vui.

Đúng là vui, là cái cười ngân ngấn đuôi mắt… Những câu thơ tỏ vẻ khách quan cứ tưng tửng như thấy sao viết vậy, sao câu nào cũng như thấp thoáng bóng ai đó”. Và tác giả đã nhận định: “Chỉ sự hiểu biết thấu đáo tự nhiên đã thấy nữ sĩ tác giả công phu”.

Bài thơ “Chợ ngày thu”, nữ sĩ Anh Thơ lại nói về mưa: “Đường đã lội trời còn mưa rườn rượt/ Và lại còn trận gió vội bay qua/ Trong lều quán người người chen chúc ướt…”, Anh Vũ như nhập đồng khi đọc những dòng thơ này: “Phải rồi, tự bao lâu nay trong đủ loại trời mưa đã được nhắc tới, nào mưa to, mưa nhỏ, mưa bụi, mưa đá, mưa phùn, mưa lâm thâm, mưa lăn phăn, mưa lún phún, mưa sầm sập, mưa ướt tóc, mưa chết cò, mưa gãy cành trám, mưa thối đất thối cát…thì mưa rườn rượt vẫn có vẻ gì đấy riêng của mùa thu mưa ngâu, chợt mưa chợt tạnh, chẳng biết bao giờ hết cho”.

Đánh giá, nhận định về tài năng của nữ sĩ Anh Thơ, Anh Vũ  đã khẳng định: “Có thể ba chữ mưa rườn rượt, nữ sĩ  đã học được ở đâu đấy trong chợ búa đồng áng dân dã dân gian, người chỉ có tí công là dám đưa chữ lạ lùng ấy vào thơ mình, mời thiên hạ từ đây cùng dùng chung thôi. Thì ngay trong bốn câu thơ trên… khuyên son cho ba chữ, rành rành dấu vết bàn tay sáng tạo của bậc nữ sĩ tài hoa. Sao ba chữ chen chúc ướt để bên nhau gợi cảm gợi hình đến thế nhỉ”.

“Ngày tết” là bài thơ cuối tập, nữ sĩ Anh Thơ như khép lại vòng quay của trời đất một năm, để mở ra thời khắc mới. Anh Vũ xúc động bình phẩm: “Hai câu thơ mở ra thật tự nhiên và trong sáng: Trước cổng làng chòm nêu vừa thức gió/ Bụi mưa phùn đã đổ xuống sân vôi… Chữ chòm nêu viết ở đây đúng chất hội họa tạo hình tạo khối nên thơ… Chữ thức gió thật sáng tạo. Ai biết thức gió là chòm nêu đánh thức ngọn gió, hay đích thực ngọn gió thổi đến, đánh thức chòm tre. Thật khó phân tích xác định rạch ròi. Chính vì trạng thái lưỡng nan này, câu thơ có được hấp lực riêng”.

“Bức tranh quê” là bức tranh phong cảnh liên hoàn về làng quê và đời sống con người ở làng quê. Trong mỗi câu thơ, mỗi bài thơ là một bức tranh phập phồng cảm xúc của nữ sĩ. Nó là riêng biệt của nữ sĩ. Nếu Nguyễn Bính nhìn làng quê bằng con mắt của anh chàng lãng tử đã từ làng lang bạt ra phố phường; Đoàn Văn Cừ tái tạo làng quê bằng nhịp điệu hồ hởi, kể lể, liệt kê; thì bức tranh làng quê của Anh Thơ ngập tràn hồn vía của người nhìn ngắm làng.

Với “Bức tranh quê” của nữ sĩ Anh Thơ, sau ba phần tư thế kỷ, Anh Vũ đã nhận ra: “Từ đây con sông, bờ đê, bãi dâu đồng lúa, mặt ao bờ tre, gốc đa bến tắm, con thuyền đường dọc, chiếc đò sang ngang… Từ đây ông lão bắt rận, bà già vá khâu, người mẹ về chợ, anh tuần canh đêm, các ả, các chàng, thằng cu, cái hĩm…T ừ đây đàn trâu đàn bò, con chó con lợn, đàn gà, bầy chim, cò mẹ cò con, chim sâu chim sẻ, đom đóm, chuồn chuồn, bướm vàng bướm trắng…

Từ đây vi vu sáo diều, thậm thình cối xay cối giã, cái cũi cái lồng, cái hom cái giỏ… Tất cả từ đây, thêm hình thêm vóc, thêm cốt thêm hồn, tự nhiên thiên nhiên, mây chiều ráng sớm, miên man hương lý hương hồng, bèo rau dập dềnh, xuân thu đắp đổi, đêm ngày âm dương. Và sao và trăng… Nếu không phơi ra, sao thành bí ẩn. Không dài không rộng, lấy đâu cao sâu”.

Anh Vũ nhận định: “Mỗi bài thơ là một bức tranh đầy đặn hình sắc, xao động âm thanh… Đặc biệt hơn cả là sự chân thành đến mộc mạc, với nhiều chi tiết hồn nhiên tới mức như vụng về, lại như có ma lực ám ảnh… Đó là kết quả sự gặp gỡ một tâm hồn nhi nữ không vướng mưu cầu riêng tư, mà đơn giản, trinh khiết, luôn hướng tới mỹ cảm thánh thiện, với sự dồn nén bao ước nguyện đơn sơ và khao khát phía chân trời xa rộng”.

Về bút pháp thi phẩm “Bức tranh quê”, Anh Vũ khẳng định: “Cả tập thơ chung một thể tám chữ, chung một độ dài mười hai câu, đã là những lý do gợi tới sự liên hoàn của Bức tranh quê”.

Bằng tình cảm trân trọng, yêu quý với một nữ sĩ tài hoa, trên mình, trước mình, từng cùng sống trên mảnh đất  Phủ Lạng Thương (Bắc Giang), nhà thơ Anh Vũ đã dồn cảm xúc của mình trên từng trang sách tiểu luận phê bình “Bút lực Bức tranh quê”, đã góp thêm một góc nhìn về một tác phẩm văn học đã được khẳng định với thời gian.

Cũng có thể vì quá trọng, quá yêu tác phẩm của nữ sĩ Anh Thơ, mà Anh Vũ gắn bút pháp “Bức tranh quê” có thấp thoáng những phẩm chất tượng trưng, siêu thực, hậu hiện đại… thì, xem ra, chưa đủ sức thuyết phục người đọc. Tuy rằng, ông có viết: “Bao bí ẩn mới chỉ gọi là sơ sơ nhận diện, đang chờ bạn tiếp tục cuộc khám phá mới”. Tiếc thay, viết đến những trang cuối này, nhà thơ Anh Vũ đã phải buông bút, vì cái chết đến đường đột. Những muốn hoàn chỉnh tập bản thảo của mình hơn, cũng không còn cơ hội nữa. Tập bản thảo “Bút lực Bức tranh quê” này được gia đình nhà thơ Anh Vũ tổ chức in ấn, cho ra mắt bạn đọc nhân ngày giỗ của ông.

Tháng 8-2016

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.