Thánh Cao Sơn Đại vương -Người thầy thuốc huyền thoại của nhân dân

Thánh Cao Sơn Đại vương là một nhân vật huyền thoại, sự tích mỗi nơi ghi mỗi khác. Âu cũng là lẽ thường. Thật khó mà nói tư liệu nào là đúng và ai là người kiểm chứng...

Để rộng đường tham khảo, tôi cung cấp cho các nhà nghiên cứu và các bạn đọc tham khảo từ sự thờ phụng Cao Sơn Đại vương ở làng quê tôi, mà tôi nghĩ có cơ sở từ sự ghi chép của nhà bác học Lê Quí Đôn (1726 - 1784).

Thánh Cao Sơn Đại vương, được thờ chủ yếu ở miền Bắc, mà điều tra khoa học ghi nhận, có nơi thờ ông nhiều nhất nước, nhiều hơn cả thờ Trần Hưng Đạo. Riêng một xã tôi (xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) có 2 làng mà có đến 4 nơi thờ Cao Sơn Đại vương, trong đó làng tôi, gọi  là làng Rồng (*) thì có 3 nơi liền nhau cùng thờ ông. Theo Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" thì Cao Sơn là người ở xứ Đầu Hồ, làng Lương Giản, huyện Chí Linh (**), nay là huyện Nam Sách. Trước đây, phía Bắc huyện Nam Sách hiện nay, trong đó có làng xã tôi, thuộc huyện Chí Linh, phủ Nam Sách.

Trong các hồ ấy ở "xứ Đầu Hồ", thì cái hồ đầu tiên là ở trước cửa nhà tôi. Chuỗi hồ hàng chục cái liền nhau này, thông nước ra sông Kinh Thày, theo hướng Nam - Bắc, qua cái cống rất to ở làng Hà Liễu (gần cầu Bình hiện nay - ở phía Tây). Từ nhiều chục năm, hồ bị lấp từng đoạn để làm ruộng, rồi làm nhà. Cầu Rồng bằng đá, ở làng Lương Giản bắc theo hướng Đông Tây, qua một cái hồ trong dãy hồ nối liền nhau này.

Thuở nhỏ, tôi đã nhiều lần đi qua cái cầu đá rất cổ kính ấy, mà nay không còn và cũng không nhớ nó đã từng ở chỗ nào, trong số những ngôi nhà tầng khang trang đô thị hóa. Làng Lương Giản cách làng Điền Trì của tôi chỉ có một con đường, và theo đó, nơi được coi là nhà Cao Sơn ở, chỉ cách nhà tôi khoảng 400 mét về phía Bắc Đông Bắc, nếu đi theo đường bộ - là 2 cạnh của một góc vuông - còn đường chim bay chỉ khoảng 250 mét.

Đình Rồng.
Đình Rồng.

Đời Chính Hòa nhà Lê (1681 - 1705) đình Rồng của làng xã tôi, đã được xây rất khang trang để thờ ông, hiện còn một tấm bia đá lớn, hình chữ nhật, cao 185cm, ngang 71cm, chữ khắc chìm cả 4 mặt vào đá nguyên khối, cùng với ngôi đình Rồng nho nhỏ mới xây lại đã được công nhận là Di tích lịch sử và văn hóa cấp tỉnh năm 2013.

Văn của tấm bia này do cụ tổ 9 đời của tôi, Tiến sĩ, Phương Trì Hầu, Tham tụng, Hình bộ Thượng thư Trần Thọ soạn và cho khắc bia năm 1686, lúc đó cụ mới là Tiến công lang cấp sự trung bộ Lễ. Tấm bia này hiện đã được bảo quản trong một nhà bia do dân làng  xã tôi bỏ tiền ra xây dựng. Chính nhờ sự đồ sộ đó mà nó mới còn lại sau nhiều cuộc hủy hoại của con người.

Năm 1740, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Diên tràn vào tàn phá làng, san phẳng đình Rồng và các di tích văn hóa khác, khai quật mộ Chánh phu nhân (vợ Tiến sĩ Trần Thọ, mẹ đẻ Tiến sĩ Trần Cảnh). Làng tôi chỉ còn là một đống gạch vụn (theo Ghi chép của Tiến sĩ, Sách Huân Bá,  Lễ bộ Thượng thư - Phó đô Ngự sử Trần Tiến, con Trần Cảnh - cụ tổ 7 đời của tôi, trong NIÊN PHẢ LỤC, 1764).

Khoảng năm 1748 đến 1753, cụ tổ 8 đời của tôi là Tiến sĩ, Diệu Quận Công, Tham tụng Lễ bộ Thượng thư Trần Cảnh chủ trì việc xây dựng lại, bằng tiền cấp cho của vua Lê Hiển Tông, gồm ngôi đình lớn 5 gian 2 chái, mỗi chái rộng như 1 gian đình, 1 cái đền và 1 cái nghè, đều gọi chung theo tên làng là Rồng, gồm đình Rồng, nghè Rồng và đền Rồng, cùng thờ Cao Sơn Đại vương, dựng trên đất được coi là nền nhà cũ của Cao Sơn Đại vương.

Sau đình có 1 gian Hậu Cung, ở đó, chỉ có 1 ngôi mộ đất, được cho là mộ của Cao Sơn Đại vương. Trần Cảnh mất năm 1758, năm 1770 được phong thành hoàng làng Điền Trì và được phối thờ ở đình Rồng, cùng 2 vị khác - và được chính thờ tại Văn chỉ Linh Khê, xã Thanh Quang bên cạnh, cùng với Mạc Đĩnh Chi và Trần Quốc Tảng (***).

Năm 1952, ta phá rỡ toàn bộ đình, đền và nghè Rồng, lấy đất và vật liệu làm việc khác. Năm 1990, chính tôi là người đã sưu tầm các tài liệu cũ chuyển cho Ban Vận động xây lại đình Rồng, đại diện là bà Trần Thị Vẹn, ông Trần Sơn, sau bổ sung ông Trần Cáp, Trần Nhâm và một số vị khác,  trình lên cấp trên, cho phép khôi phục lại đình và nhiều năm sau đó, nhân dân góp tiền xây lại cái đình nhỏ, trong đó có sự đóng góp của nhà hảo tâm Nguyễn Chính. Đình vẫn  gọi theo tên cũ là đình Rồng, ở ngay đầu làng tôi, cách cái nghè cũ khoảng 40 mét (cái nghè này trên gò cao, cây cối um tùm, đúng như Lê Quý Đôn đã ghi) cách cái đình cũ khoảng 15 mét, và ngôi mộ (gió) của ông hiện nay, cách cái gò đất trong Hậu Cung - được coi là mộ ông - khoảng  gần 30 mét về phía Nam (ghi theo trí nhớ thuở nhỏ của tôi).

Ông là một nhân vật truyền thuyết, không biết được tạo dựng từ thuở xa xưa nào, rồi sau đó, nhiều người đời sau, trong đó có các cụ tổ tôi và cụ Lê Quý Đôn theo đó mà ghi lại. Từ nhỏ, tôi vẫn thuộc câu "sấm truyền" về Thánh Cao Sơn "Sinh ư Bản Giẫm, tử tại Điền Trì". Điền Trì là làng xã tôi, còn Bản Giẫm được giải thích là ở tỉnh Bắc Giang.

Ở nhiều nơi thờ phụng khác, Cao Sơn Đại vương được ghi là một vị tướng của Vua Hùng hoặc là con trai của Vua Hùng. Lại có tài liệu ghi là con trai của Lạc Long Quân. Còn ở khu vực làng xã tôi, dường như người dân chỉ biết ông là một thầy thuốc giỏi, đã chữa khỏi bệnh sởi và bệnh đậu mùa cho nhân dân địa phương.

Cơ sở để người dân quê tôi nghĩ thế, theo tôi là căn cứ vào những dòng ghi chép của Lê Quý Đôn. Tương truyền thời ấy, nhiều người chết vì bệnh này, cho là bị "quan ôn bắt lính" và bệnh sởi, bệnh đậu mùa cũng được gọi là bệnh "đạo ôn" và người bị chết, gọi là bị "ôn vật". Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" chỉ ghi ông là một vị thầy thuốc giỏi, chữa khỏi bệnh sởi và bệnh đậu mùa cho dân mà thôi. 

---------------------------         

(*) Theo Đặng Văn Lộc - An Văn Mậu - trong bài " Tấm bia đá cổ ở Trực Trì" tư liệu lưu của Bảo tàng tỉnh Hải Dương, thì tên đình Rồng (của làng Rồng) là tên vua ban cho,  còn lưu trong hồ sơ công nhận Di tích văn hóa và lịch sử cấp tỉnh của Di tích.

(**) Lê Quý Đôn, toàn tập. Tập II Kiến văn tiểu lục,  NXB Khoa học xã hội, H. 1977, tr 445 - 446.

 (***). Xem thêm Tục phả (trong NIÊN PHẢ LỤC, NXB Văn học, H. 2003, tr. 269 - 270 của Trần Quí,  tức Trần Quí Nha - Trần Trợ, tác giả Tục biên Công dư tiệp kí). Theo đó Trần Tiến là người: xem khắp địa hình, chọn địa điểm này - giảng đường cũ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, để xây Từ chỉ, thờ các bậc tiên hiền. Trần Trợ là con Trần Tiến, cháu Trần Cảnh, chắt Trần Thọ. Hiện vẫn có tượng thờ 3 vị "tiên hiền" này trong Văn chỉ Linh Khê, cạnh đường Cầu Bình đi Nam Sách.

Trần Nhuận Minh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.