Tháng 7 thăm bến đò mẹ Suốt

Và tôi vẫn như còn như nghe lời tâm sự của nhà thơ Tố Hữu với mẹ: “Gan chi gan rứa, mẹ nờ - Mẹ rằng: cứu nước còn chờ chi ai”. Tháng 7 bến đò mẹ Suốt như sâu thẳm mà mênh mang hơn trong: “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình”...

Tháng 7 này tôi về Bảo Ninh thăm lại bến đò mẹ Suốt năm xưa. Một anh bạn thơ quê Quảng Bình đã kể cho tôi nghe xuất xứ bài thơ “Mẹ Suốt” nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu sau khi được in trang trọng trên trang nhất báo Nhân Dân, qua giọng ngâm truyền cảm của nghệ sĩ Châu Loan trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam và đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa đã được nhiều người biết đến. 

Anh bạn thơ kể: Năm 1965 giặc Mỹ cho máy bay đánh phá ác liệt Thị xã Đồng Hới. Nhà thơ Tố Hữu lúc đó là Trưởng ban Tuyên giáo trung ương vào làm việc với tỉnh Quảng Bình. Sau khi nghe hết các báo cáo của địa phương, các tấm gương điển hình ông chú ý và mong muốn được gặp mẹ Suốt chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ. 

Trưa ngày 4/11/1965 tổ chức bố trí cho nhà thơ gặp mẹ Suốt tại nhà khách tỉnh ủy Quảng Bình. Trong lần gặp này nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những câu hỏi của mình và những câu trả lời của mẹ Suốt. Sau giờ làm việc nghỉ ngơi xong, nhà thơ lên phòng khách ghi chép, sắp xếp câu chữ cho có vần điệu thế là bài thơ “Mẹ Suốt” ra đời.

Tôi được nghe kể: Cuộc đời mẹ Suốt rất vất vả, lớn lên làm vợ lẽ ông Trần Bạo. Dịp đó các đội sản xuất đánh cá mà ông Bạo là xã viên thường được gọi tên “xuất quân” đi bám biển còn mẹ Suốt thì luôn sẵn sàng xung phong nhận nhiệm vụ chèo đò. Vì thế mà qua nghe chuyện nhà thơ Tố Hữu mới có câu: “Ông nhà theo bạn xuất quân – Tui nay cũng được  vô chân sẵn sàng”. Còn câu thơ: “Mùng xanh đây mụ đắp cho kín mình” mà ông Trần Bạo dặn mẹ lại chính là tấm dù ngụy trang nhuộm xanh cắt ra từ vải mùng để mẹ khoác lên người khi chèo đò.  

Mẹ Suốt chèo đò (Ảnh tư liệu).
Mẹ Suốt chèo đò (Ảnh tư liệu).

Ông Vũ Văn Hoa – Con rể mẹ Suốt kể lại: khi bài thơ xuất hiện mẹ tôi có được nghe nghệ sĩ Châu Loan ngâm trên đài bà đã xúc động và bật khóc biết ơn nhà thơ Tố Hữu. Cũng chính từ thông điệp cảm động nhân văn của thi ca này đã giúp chúng ta biết đến người mẹ anh hùng quả cảm. 

Và sau đó ban thi đua khen thưởng trung ương qua đề xuất của nhà thơ Tố Hữu đã đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng cho mẹ. Mặc dù lúc đó tuổi mẹ đã cao nhưng mẹ xung phong đảm nhiệm công việc khó khăn nguy hiểm nhất là chở bộ đội qua sông và chuyển vũ khí lương thực ra cho các tàu hải quân chi viện cho chiến trường miền Nam. 

Có những lần con đò mới ra đến giữa dòng thì bị máy bay địch bắn phá dữ dội. Con thuyền nghiêng ngả ngỡ như lật úp nhưng mẹ vẫn bình tĩnh khôn khéo cầm chắc tay lái điều khiển vượt qua mưa bom cập bến an toàn. Một con số thống kê cho biết mỗi năm mẹ chở chừng  1.400 chuyến đò qua sông...

Đối diện với bến đò Mẹ Suốt bên kia sông Nhật Lệ là khu tượng đài mẹ Suốt. Tôi đã đến Hội Văn nghệ Quảng Bình gặp Chủ tịch Hội là nhà điêu khắc Phan Đình Tiến – tác giả tượng đài mẹ Suốt. Anh Tiến hồ hởi dẫn tôi ra thăm khu tượng. 

Tiến kể: Anh vốn xuất thân là chàng sinh viên khoa hội họa của trường Đại học nghệ thuật Huế. Tuy nhiên sau một thời gian vẻ đẹp của mảng khối điêu khắc đã hấp dẫn cuốn hút anh, mà theo anh chỉ có ở đó mới có thể diễn tả hết được ý tưởng sáng tạo của mình. Từ đó anh quyết định học ngành điêu khắc. 

Vào năm cuối đại học, tác phẩm “Tượng đài mẹ Suốt” đã được hội đồng nghệ thuật trường đại học nghệ thuật Huế chấm giải xuất sắc. “Đó là một niềm vui và vinh dự lớn nhất trong sự nghiệp điêu khắc của tôi” anh Tiến chia sẻ. 

Anh là người con Quảng Bình quê hương với Mẹ Suốt và năm 1966 lúc anh sinh ra cũng là thời điểm bài thơ “Mẹ Suốt” của nhà thơ Tố Hữu mới ra đời và được lan truyền  rộng rãi luôn ám ảnh anh. Nhiều lần Phan Đình Tiến sang làng Bảo Ninh ra bến đò mẹ Suốt. Trước mắt anh là lấp loáng ánh nắng trên những ngọn sóng của sông Nhật Lệ như gợi nhớ lại tư thế hiên ngang dũng cảm của mẹ Suốt chèo đò cho anh cảm hứng về dáng điệu của bức tượng. 

Và nhất là đôi mắt của mẹ - Một đôi mắt hiền từ lam lũ từ nhỏ tần tảo nuôi con nay ánh lên sáng rực ngọn lửa quả cảm trước bom đạn kẻ thù. Và nếp áo nâu bạc màu sương gió có gì lay thức  thao thiết trong lòng anh để hoàn thanh ý tưởng thiết kế. 

Năm 2001 khi đang thi công mẫu tượng đài mẹ Suốt, Tiến bị một cơn đau lạ trong đầu ra điều trị tại bệnh viện Việt – Đức (Hà Nội) người ta phát hiện anh bị u màng não. Tiến cứ nghĩ cuộc đời đã đến lúc chấm hết. Ngoài nỗi lo mẹ già, vợ trẻ và đứa con đầu lòng chuẩn bị ra đời anh còn lo lắng tượng đài mẹ Suốt chưa xong như món nợ tinh thần day dứt. 

Tiến kể lại: “Ngày đó khi đêm xuống đầu đau nhức như búa bổ, trong cơn mơ chập chờn hình ảnh mẹ Suốt hiện về và cơn đau đầu giảm hẳn”. Trong một lần người nhà mẹ Suốt làm lễ tạ mộ mẹ đã thắp hương khấn mẹ phù hộ cho Tiến khỏe mạnh và quả nhiên Tiến khỏi bệnh hẳn. Anh nói: “Mình nghĩ là mình được mẹ Suốt phù hộ thật nên khỏi bệnh”. 

Đứa con trai sinh ra Tiến đặt tên là Cu Đá vì đời nhà điêu khắc chỉ gắn với đất đá . Những ngày ấy anh sau khi khỏi bệnh đã vội về dù sức khỏe chưa ổn định vẫn cặm cụi giữa ngày hè rát bỏng cùng nhóm nghệ nhân Ninh Bình hoàn thành tượng đài mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ ở một vị trí rộng rãi rất đẹp. 

Tượng mẹ Suốt cao 7m (cả bệ) được Tiến làm từ chất liệu đá xanh Thanh Hóa dựng xong năm 2003. Nơi đây bây giờ trở thành công viên có rất nhiều đoàn khách du lịch đến đặt vòng hoa thăm viếng. 

Tượng đài mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ - Quảng Bình.
Tượng đài mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ - Quảng Bình.

Anh Tiến dẫn tôi vào khu chợ kề bên tượng đài. Anh đố tôi: Anh xem trong những người bán hàng dãy quán này ai là con mẹ Suốt? Tôi nhìn lướt qua khi đi dọc dãy quán tạp hóa với muôn mắm muối, dưa cà nhanh chóng nhận ra chị Trần Thị Huế bởi chị có khuôn mặt rất giống mẹ Suốt mà nói như anh Tiến là “giống mẹ như tạc”. 

Chị là con gái thứ ba của mẹ, chị nói: “Tui may mắn có cơ duyên là ngày ngày bán hàng ở đây gần tượng đài mẹ mình. Sáng đến sớm, chiều về muộn ít nhất là ngày hai lần được gặp mẹ, nghĩ về mẹ và tưởng như được trò chuyện hàng ngày với mẹ”. 

Chị kể cho chúng tôi nghe về những giây phút cuối cùng của đời mẹ: Hôm đó là ngày 21/8/1968 sau khi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua từ Hà Nội về đến Quảng Bình, tỉnh đội cho xe đưa mẹ tui về bến đò Nhật Lệ. Xuống đò, mẹ giành lấy chèo từ tay chị gái tui nói: “Bữa ni, mi chống nhiều, để mạ!” rồi mẹ tui vừa chèo vừa kể chuyện được gặp Bác Hồ.  

Đến Bảo Ninh mẹ nói với chị gái tui: “Mạ về làng để biếu mấy ông, mấy bà trong xóm khăn mùi xoa, cho mấy cháu nhỏ vở, bút mực rồi ra chống đò thay mi”. 

Mẹ tui bước nhanh trên triền cát chợt có tiếng máy bay, bất ngờ hai chiếc phản lực từ biển lao đến thả hai trái bom bi. Trái bom lớn nổ vô số những trái bom con bắn xuống tới tấp, tiếng nổ lục bục dội lên, Khi mọi người chạy đến, mạ tui đã hy sinh thân thể đẫm máu loang nhanh thấm xuống đất phù sa lẫn cát. 

Phan Đình Tiến và tôi lặng người cùng ngước nhìn về phía tượng đài mẹ Suốt trong nắng và gió và hình như có cảm giác mẹ đang rướn người lên băng mình về phía trước.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là trụ sở UBND xã Bảo Ninh xây ngay cạnh bến đò mẹ Suốt năm xưa. Bên cạnh cổng chính trụ sở là khu lưu niệm bến đò mẹ Suốt khá khang trang với những bức phủ điêu  tạc trên bức tường dài kể lại câu chuyện mẹ Suốt chèo đò. Tấm bia tưởng niệm mẹ nghi ngút khói hương trầm. 

Tôi nhìn lên bức tường in phù điêu mẹ chèo đò thật sinh động cùng với mấy cấu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung – Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”.  Và tôi vẫn như còn như nghe lời tâm sự của nhà thơ Tố Hữu với mẹ: “Gan chi gan rứa, mẹ nờ - Mẹ rằng: cứu nước còn chờ chi ai”. Tháng 7 bến đò mẹ Suốt như sâu thẳm mà mênh mang hơn trong: “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình”...

Hà Tĩnh, ngày 15-7-2020

Nguyễn Ngọc Phú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.