Thạch Lam: Bóng hoàng lan xao động

“Nga đến, trên con đường lát gạch Bát Tràng rêu phủ dưới vòm sáng vắt ngang mái tóc. Thanh từ trên tràng kỷ lẳng lặng ngồi dậy, cố giấu đi phút xáo động của niềm hân hoan. Là nàng, người con gái vẫn nhặt hoa hoàng lan với chàng thuở nhỏ....”. Những dòng văn nhẹ như áng thơ ấy dẫn Thanh bước vào tình yêu tuổi trẻ, dẫn ta bước vào thế giới trong như một mảnh trời xanh của Thạch Lam.

Chất thơ trong từng trang viết

Tấu khúc của văn chương là một bản cello với những giai âm đa tầng. Chúng rung lên như một chiếc lá giữa những đợt chuyển mình của gió, dìu dặt đón lấy hơi thở của đất trời rồi thả mình chao liệng giữa thinh không. Trong đó, tôi nghĩ những nốt trầm nhẹ bẫng dành riêng cho Thạch Lam, ông gảy nên nốt Đô rồi thả tay đến âm Rê, sẽ sàng chuyển sang Mi, còn Sol sẽ là bậc âm cao nhất, cũng là bậc âm cuối cùng. Có người bảo thứ văn ấy nhẹ như những cánh bướm non khẽ đậu trên trang giấy, chúng đậu vào lòng người bằng thế giới nghệ thuật được khúc xạ qua lăng kính của ông.

hình 2.jpeg -0
Chân dung nhà văn Thạch Lam.

Khác với những cây bút của “Tự lực văn đoàn”, đề tài quen thuộc của Thạch Lam không phải những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly, những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của lề thói đạo đức phong kiến như “Đoạn tuyệt”, “Hồn bướm mơ tiên”… Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về những phận đời bé mọn trong xã hội. Họ là người trí thức, người nông dân, người lao động phải vật lộn giữa hiện thực và ước mơ. Đó là hai đứa trẻ thức đợi đoàn tàu trên một phố huyện nghèo (Hai đứa trẻ), là tình yêu chớm nở giữa Thanh và Nga (Dưới bóng hoàng lan), là cô Tâm hàng xén, đôi hàng gánh cong xuống và rên rỉ (Cô hàng xén), là mùa đông xứ Bắc, hai chị em Sơn lén mẹ lấy áo bông cũ tặng cái Hiên đang tím tái vì gió lạnh (Gió lạnh đầu mùa),…

Thật ra, mỗi nhà văn đều có những không gian nghệ thuật của riêng mình. Mạc Ngôn có vùng quê Cao Mật tiêu điều, rách nát, ám ảnh trong những niềm “hoan lạc”, Nguyễn Tuân có không gian ký vãng được dựng nên từ hồi ức và cái đẹp cổ kính, với Thạch Lam nơi ông thả những suy nghĩ xuống trang giấy là phố huyện Cẩm Giàng. Dưới ánh trăng lợt lạt màu xám bạc như gương mặt của thị xã, ông lắng nghe cuộc đời.

Màu xanh trong văn Thạch Lam tĩnh lặng, như thứ mực xanh lắng lại dưới đáy của một ly nước mát. Từ đó, những miền đời cô tịch dần hiện lên trên bức phông nền không gian, thời gian. Khung cảnh thường thấy là những làng quê xứ Bắc, những khu chợ tồi tàn với bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn, những phố huyện nghèo khổ, thê lương. Trữ tình, ấm áp và nhẹ nhàng, thế giới ấy bất chấp những khái niệm về cốt truyện thông thường, đã kể những chuyện tình ngọt ngào nhất thế gian mà cũng buồn bã nhất thế gian.

Một thứ văn chương với những vực xoáy, những run rẩy, những cuồng nhiệt, những rụt rè, những tàn phai. Lam không bắt ta bước vào một mê cung ngột ngạt, một cuộc rượt đuổi điên cuồng nhưng những tình tiết dù nhỏ nhặt vẫn làm người đọc phải bồi hồi, suy ngẫm. Đan xen vào những ký ức buồn vui của tuổi mới lớn, trong sáng và mong manh như những hạt sương là ký ức tuổi thơ, tình yêu thời son trẻ, tình cảm gia đình và cả những rung động ngây ngô những năm thiếu thời. Phải thôi, vì từ niên thiếu, Thạch Lam đã gắn đời mình vào đời của những người nghèo sớm bị đẩy vào miền lãng quên của thời cuộc.

hình 1 (1).jpg -0
“Gió lạnh đầu mùa” là tập truyện ngắn đầu tiên của Thạch Lam, xuất bản năm 1937.

Ở không gian nghệ thuật ấy luôn có sự xuất hiện giữa ánh sáng và bóng tối. Trong Hai đứa trẻ, những đốm vàng le lói mà Thạch Lam vẽ là sự tàn lụi chăng? Không, chúng là những vì sao. Lam đi bắt sao. Ông không vẽ về lãng quên vì cuộc đời đã quá nhiều những bi ai, đoạn tuyệt, con người thì chẳng nên để cuộc đời nhuốm màu xám tro. Nên Lam không than khóc, ông cho chúng ta chút ánh sáng le lói về đời. Thạch Lam là vậy, một mình một kiểu theo lối rẽ riêng.

Giữa nhịp đời đen tối, nhàn nhạt, chỉ có bóng đêm, Thạch Lam vẫn vẽ ánh sáng, rồi vẽ những vệt sáng qua khung cửa sổ, vẽ cỏ cây, vẽ những con người khốn khổ háo hức đợi đoàn tàu, sự sống tràn vào trang viết của Thạch Lam, phố huyện bừng sáng, cuộc đời căng mọng, ước mơ lại đâm chồi. Ông vẽ những căn nhà với những bóng hoàng lan, những tấm rèm phơ phất, những cuộc tình tươi đẹp, người chủ của những căn nhà ấy hẳn là rất yêu đời, chỉ khi yêu đời người ta mới trang hoàng nhà cửa. Chán đời người ta chẳng thiết tha.

Văn chương khiến “người gần người” hơn

Trong những tác phẩm của mình, Thạch Lam khiến tôi nhớ đến Fyodor Dostoevsky như một người thầy với triết lý nổi tiếng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới!”. Dostoevsky viết trang nhật ký của kẻ mộng mơ, ông từng sa vào nỗi cô đơn, vào bệnh tật, vào những cơn thiếu ngủ, vào những tranh đấu bên trong bản ngã của con người. Và một trong hai văn hào vĩ đại nhất nước Nga đã viết thế này: “Con người thỉnh thoảng, bằng một tình cảm phi thường và nồng nhiệt, họ yêu sự đau khổ: đó chính là sự thật.” Theo Dostoevsky, sự đau khổ luôn đeo đuổi chúng ta, cuộc đời chỉ là một tiến trình thay đổi trọng tâm của nỗi đau chứ không thể nào di dời nỗi đau, sẽ luôn có thứ gì đó làm chúng ta đau đớn.

Còn với Nguyễn Tường Vinh “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật bình thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp ở chính chỗ mà người ta không ngờ tới”, song chính bản thân Thạch Lam cũng từng tâm sự rằng: “Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường cái sống”.

Thạch Lam là một thi sĩ, ngay cả khi viết truyện ngắn ông cũng là một thi sĩ hơn là một văn gia, và ông đã làm đúng như những gì Dostoevsky đặt ra. Mỗi truyện ngắn của ông như một bài thơ về những thân phận nhỏ bé, côi cút và bất hạnh, gợi sự thương cảm, xót xa sâu sắc của tình người. Ông nuốt hết mọi chất độc, ông căng hồn mình như một cánh diều no gió rồi lắng nghe cuộc đời thổi vào đó những hợp âm.

Nhưng nếu không như thế, Lam sẽ không thể viết ra những câu văn đầy chất thơ, rằng “bóng tối dịu và man mát loáng qua những màu sắc rực rỡ”, “sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi”, rằng “con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”.

Xúc cảm ấy chỉ có thể bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam biến đổi những chất liệu thô từ hiện thực thành hình tượng, những chất liệu thị giác thành chất liệu xúc giác, ông đi từ thế giới này sang thế giới kia như đã biết lối tắt dẫn hiện thực vào giấc mơ, ông là một nhà văn lãng mạn đích thực.

Phạm Quỳnh, chủ báo Nam Phong từng viết: “Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy”.

Trong những năm 1930, cái nghịch lý hiển nhiên, sự đối thoại trực diện của chủ nghĩa lãng mạn với một nề nếp thơ ca chở đạo đã tạo ra một cơn địa chấn, khai nguyên một ngôn ngữ mới. Trên quãng đôi mươi, Thạch Lam bước vào văn đàn với tất cả mộng ước và nhạy cảm của một tâm hồn yêu sự sống. Tương tự tư tưởng của các cây bút cùng thời, ông vắt ra từ thế giới nội tâm của con người những đớn đau, quằn quại.

Ông coi văn chương là cái đẹp man mác len lỏi khắp thế gian. Nhưng hơn tất cả chúng phải là một thứ khí giới “thanh cao và đắc lực”, vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm “trong sạch và phong phú hơn”. Ta đọc văn ông như nghe một chiếc đĩa than trên máy hát, chạy hết lớp giai điệu này đến lớp giai điệu khác, miên man, trầm bổng nhưng vẫn đủ khiến ta tỉnh táo để trăn trở và suy tư.

Đã mấy chục năm trôi qua, trong dòng chảy văn chương cuộn xoáy, đôi người đã đến, đôi người rời đi. Nhưng Thạch Lam vẫn là một dấu ấn đặc biệt, nhẹ nhàng như bóng hoàng lan nhưng vẫn khiến tôi xáo động cõi lòng.

Tôi ước sao có thể ôm lấy cuộc sống một cách thắm thiết như anh, Thạch Lam ạ. Thật may, anh bảo luôn có hoàng lan cho những kẻ muốn nhìn chúng.

Phan Thiên Di

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.