Tám mươi lăm centimét, chưa đủ một mét

Vào độ giêng hai năm 1974, một buổi sáng đẹp trời, tôi được nhà thơ Anh Thơ gọi mời đến chơi nhà. Khi đó nhà thơ Anh Thơ đang ở khu tập thể Văn Chương, căn hộ tầng một, thấp tè, nhà chứa rất nhiều sách. Đến nơi, tôi được mời thưởng thức bữa cơm gạo trắng với món cà chua nhồi đậu phụ và thịt băm, và có lẽ nguyên do chính lại là câu chuyện chia sẻ với một cây bút trẻ mới toanh như tôi. 

Trước đó tôi có gửi tặng bà một tập thơ của mình. Cả tập thơ, rất buồn là không có một bài nào được in trên Tạp chí Tác phẩm mới. Lý do không được in còn được nhà thơ Xuân Diệu ghi trên bản thảo: "Thơ Hoàng Việt Hằng mới được 85centimet, chưa đủ một mét. Khi nào đủ một mét thì in cũng chưa muộn". Lời "chua" dưới tập bản thảo, đến nay đã hơn 40 mươi năm, chữ mực xanh ông viết ngày ấy đã nhòe, giấy ố vàng vì nhà tôi ở tập thể xuống cấp, mấy mươi năm ẩm thấp, nên những giá sách ba bên tường nhà đều bị mối ăn hết cả, riêng câu "chua" của nhà thơ Xuân Diệu trong tập thơ thì tôi vẫn còn in trong trí nhớ, không quên.

Trong bữa ăn, nhà thơ Anh Thơ an ủi tôi bằng cách giới thiệu tôi đi học Trường Bồi dưỡng viết văn trẻ khóa 7, trường ở trên Quảng Bá. Sau đó bà còn sửa chữa in bằng được một bài thơ của tôi trên Báo Lao Động, do nhà thơ Thái Giang phụ trách mảng biên tập thơ.

Nữ sĩ Anh Thơ hồi trẻ và... khi về già.
Nữ sĩ Anh Thơ hồi trẻ và... khi về già.

Dù in được một bài thơ trên Báo Lao Động, nhưng tôi thấy làm thơ khó quá, đã nản, nên rẽ sang viết truyện ngắn. Bản thảo của tôi năm đó ở trường được thầy giáo, nhà văn Đỗ Quang Tiến đọc ngay tại lớp, thầy chữa cho từng dấu chấm than đến đối thoại sao cho rõ nghĩa, đối thoại không nên quá dài dòng. Thầy còn bảo truyện này có thể in Báo Tiền Phong, truyện này nên in ở Báo Lao động.

Sau này, khi có ai hỏi tại sao tôi rẽ sang viết văn xuôi, bỏ làm thơ một thời gian dài vì lý do gì, tôi thường nói câu "chua" của nhà thơ Xuân Diệu: "Tám mươi lăm centimet, chưa đủ một mét". Hồi đó truyện ngắn của tôi được in khá thường xuyên trên Báo Tiền Phong và Báo Độc Lập.

Dù tôi đã chuyển sang viết truyện ngắn nhưng nhà thơ Anh Thơ vẫn động viên tôi làm thơ. Bà muốn thơ tôi được in trên Tạp chí Tác phẩm mới, nhưng ba lần bảy lượt đề nghị thì nhà thơ Xuân Diệu vẫn kiên quyết: "Chờ cho cây bút trẻ này, khi nào thơ phải đủ một mét mới in".

Đến nay đã nhiều năm cầm bút, tôi vẫn hay tự hỏi: Ai mà biết được thế nào là thơ đủ một mét theo thẩm định của Xuân Diệu đây? Rồi khoảng tháng 5 năm 1975, chùm thơ của tôi được in trên Báo Văn Nghệ, mãi sau này tôi mới biết nhà thơ Nguyễn Phan Hách là "bà đỡ". Khi báo ra, nhà thơ Anh Thơ đọc báo Văn Nghệ xong hỉ hả sung sướng y như mình được in thơ chứ không phải là tôi. Bà lại gọi tôi đến nhà, tiện thể nhờ tôi láng cho cái sân xi măng bằng nửa cái chiếu một, để bà ngồi rửa rau vo gạo.

Chao ơi, vừa láng sân cho bà tôi vừa nghe bà vui mừng hoan hỉ vì thơ của tôi đã in trên Báo Văn Nghệ. Bà nói: "Thơ của cháu đủ một mét đấy chứ, thế mà ông Diệu này khó tính quá, lúc nào cũng bảo tám mươi centimet, có tức không?".

Một chủ nhật khác, khi tôi và các nhà văn, nhà thơ trẻ như Lý Thị Trung, Trần Thị Mỹ Hạnh, Phan Thị Thanh Nhàn được nhà thơ Anh Thơ mới đến ăn cơm. Ăn xong mọi người lục tục ra về. Tôi nán ngồi lại với bà vì nghĩ đến cảnh một đèn một bóng của bà mà thương: Từ khi bác sỹ Dinh, chồng bà mất, bà lủi thủi một mình. Hai cô cháu trò chuyện. Bà khuyên tôi đừng bỏ thơ, "Vì cô đọc thấy cháu viết còn lên tay. Có điều cần bàn là bố cục toàn bài chưa chặt chẽ cho lắm".

Đúng là sau khi có gia đình, tôi đã bỏ viết vì thấy mình cần thiết cho ngôi nhà hơn văn chương. Không thể để cái bếp lạnh mà đi lẻ với thơ ca. Tôi đã bỏ cuộc rất lâu. Sau đó số phận lại chọn tôi viết văn trở lại. Viết để sống. Các Mác có viết: "Nếu như các nhà thơ không sống để viết thì các nhà thơ sẽ viết để sống!". Tôi thuộc vế sau câu nói của Các Mác. Và số phận dành cho tôi phải viết để sống. Để tồn tại.

Nhà thơ Anh Thơ mất đã lâu, nhưng sự ấm  áp ân tình, sự giúp đỡ vô tư của bà vì một thế hệ tiếp nối thi ca Việt Nam thì mãi mãi còn trong tâm trí của tôi.

Dù bà đã trở về sương khói. Dù thơ tôi vẫn chỉ đủ tám mươi lăm centimet, tôi vẫn biết ơn nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Anh Thơ. Không có sự nghiêm khắc ngày đó của nhà thơ Xuân Diệu, chắc gì tôi đã khổ luyện, chắc gì tôi đã lọ mọ với chữ nghĩa cho đến hôm nay, khi đối mặt với trang giấy và cuộc sống thấy mình đủ thấm với niềm vui, nỗi buồn và hạnh phúc.

Hoàng Việt Hằng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.