Tam Lu nghiêng trời

Lần này tôi đi về phía trong veo. Trời trong, sóng sánh nắng mật. Nước trong, bọt trắng sôi lên từ những bờ đá dựng đứng lấp lánh ngời lên từng hạt. Đó là thác Tam Lu. “Cảm giác thật yomost” khi đến đây!

Tôi thường muốn quăng mình vào gió bụi, phơi phới lao đi với niềm hứng khởi điên rồ. Mặt mũi loam nhoam. Đôi mắt đỏ đòng đọc. Thả cho tâm hồn trôi, phiêu diêu dâng lên chất ngất tôi mới là tôi. Nhưng lần này tôi đi về phía trong veo. Trời trong,  sóng sánh nắng mật. Nước trong, bọt trắng sôi lên từ những bờ đá dựng đứng lấp lánh ngời lên từng hạt. Đó là thác Tam Lu. “Cảm giác thật yomost” khi đến đây!

Thác Tam Lu nằm ở thượng nguồn sông Long Đại, thuộc xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Người cầm lái là Tùng, chàng trai đậm chất rú rừng, rắn chắc như lim mà hiền lành như dòng suối mùa nước cạn. 

Thuyền làm bằng nhôm, mong manh hình chiếc lá nhưng sức chở lên đến chục con người. Cả bọn chúng tôi ồ ạt nhảy lên thuyền với sự manh động tột cùng. Hình như Tùng đã quá quen với sự phấn khích của những kẻ “sổ lồng” nên vẫn ngồi yên chờ chúng tôi an vị. 

Con thuyền lướt đi rất nhẹ. Tiếng máy cole vang lên, dội vào những lèn đá cao làm xao động cả quãng sông vắng. Dòng sông phía đầu nguồn bình yên đến lạ kỳ. Một bên là những lèn núi đá vôi trầm mặc. Một bên là dãy đồi bát úp xanh ngăn ngắt. Thấp thoáng phía xa những ngôi nhà sàn bé nhỏ của đồng bào dân tộc Vân Kiều. 

Chẳng có tín hiệu gì báo cho ta biết phía trước là một con thác đẹp rợn người, chỉ đến khi bắt gặp càng lúc càng nhiều các bờ đá lớn nhỏ mọc rải rác giữa dòng và tiếng nước xoáy mạnh vọng lại mới cảm nhận được sự phiêu lưu đã ở rất gần. 

Nghệ nhân Hồ Ai thổi sáo Pi bên thác Tam Lu.
Nghệ nhân Hồ Ai thổi sáo Pi bên thác Tam Lu.

Tam Lu không hùng vỹ như những gì mọi người vẫn hình dung, nhưng rất đặc biệt. Không quá cao, chỉ chừng 20 mét, cũng không quá dài, chỉ chừng 100 mét, đuợc tạo bởi ba bậc đá đủ hình đủ dạng lô nhô giăng ngang mặt sông. Có lẽ vì thế mà thác có tên Tam Lu. 

Đây là con thác đẹp nhất trong gần 100 con thác lớn nhỏ trên dòng Long Đại. Đặc điểm này đã giúp Tam Lu trở thành điểm du lịch cực kỳ phiêu lưu và hấp dẫn. Người ta đến đây không chỉ ngắm nghía, dạo chơi mà còn để được thử thách lòng can đảm vượt thác trên những con thuyền nhỏ và chiêm ngưỡng khả năng lái thuyền siêu đẳng của mấy gã trai lãng tử đất rừng Trường Sơn. 

Chớm cửa thác, Tùng đứng dậy, tay cầm lái, hai chân trụ vững sau mui thuyền, vươn người ra phía trước: “Mọi người chuẩn bị vượt thác nhé!”. Chiếc thuyền chồm lên, chúi xuống, chúng tôi run rẩy bám hai tay thật chặt vào mạn thuyền trong cảm giác rất đau tim. Tùng vẫn thản nhiên liên tục bẻ lái để con thuyền vượt lên trên những bậc đá hoặc luồn lách qua các khe nước hẹp. 

Cái tài của người cầm lái là làm sao thuyền phóng lên mà không bị nghiêng, độ bay phải đảm bảo vượt qua ghềnh đá và tiếp nước an toàn. Chúi mũi xuống coi như… xong. Ba bậc đá là ba lần bay như thế. Sóng trắng tung lên. Con thuyền hạ xuống. Rất phiêu lưu và có phần nguy hiểm nhưng ai cũng thích. Nhiều chị em mặt mày tái dại vì những cú lao thuyền lên không “vô tiền khoáng hậu” của Tùng vẫn đinh ninh lời hẹn: “Có dịp là đi tiếp. Sợ chi!”. 

Tùng đã có 13 năm lái thuyền trên sông Long Đại. Anh nói rằng: “Lần đầu chèo thuyền vượt thác cũng khớp lắm. Thuyền va vào đá là úp ngay. Nhưng đi mãi cũng quen. Giờ thì thuộc từng rãnh nước, từng mõm đá. Không cần nhìn, cái tay cũng biết lái bên nào...”. 

Tùng là một trong rất ít người còn bám trụ với dòng sông, với thác Tam Lu. Nghe kể, cách nay chưa xa sông Long Đại là “con đường” độc đạo nối Quán Hàu - huyện lỵ Quảng Ninh và các xã hạ lưu với Trường Sơn. Gần 100km chiều dài, con sông lúc nào cũng nhộn nhịp thuyền lên, thuyền về. Người mưu sinh với nghề lái thuyền cũng làm ăn khấm khá, khách thương hàng hóa miền xuôi lên, miền ngược xuống không lúc nào ngớt. 

Từ ngày có đường Hồ Chí Minh nối thông miền ngược với miền xuôi, người ta lên Trường Sơn bằng ôtô, xe máy, quên dần những chuyến đò dọc. Thời buổi này, ai rảnh đâu mà chòng chành cả ngày trời trên sông! Nghề đi đò dọc dần mai một. Hiện nay chỉ còn đâu khoảng chưa đến chục người còn bám trụ lại làm nghề, vừa khai thác thủy sản, vừa đưa đón khách vãng lai. Tùng là một trong số đó. Vì mưu sinh. Vì yêu dòng sông. Vì thích phiêu lưu trên những con sóng trắng nơi ghềnh đá. 

Những năm gần đây công việc của anh có vẻ dày hơn vì nhu cầu chơi thác của khách du lịch ngày càng đông. Tuy nhiên công việc này chỉ mang tính tự phát, Tùng lo lắng bởi vượt Tam Lu là một chuyến đi mạo hiểm, có thể ảnh hưởng đến tính mạng,  trong lúc đó tuyến du lịch này chưa được công nhận, sự an toàn cho du khách vượt thác chưa được đảm bảo. 

Tùng ước tỉnh Quảng Bình, huyện Quảng Ninh xây dựng một chương trình phát triển du lịch trên sông Long Đại để anh yên tâm làm nghề... Mong ước ấy sẽ thành hiện thực bởi trong khuôn khổ các tiểu dự án của Dự án phát triển bền vững tiểu vùng Mê Kông giai đoạn II, ngành Du lịch tỉnh Quảng Bình đã xây dựng tuyến du lịch đường sông Nhật Lệ - Long Đại, nối cửa biển với thượng nguồn. 

Theo đó, sông Long Đại, thác Tam Lu là một tua du lịch kỳ thú. Người ta có thể khám phá đời sống văn hóa giàu bản sắc của đồng  bào dân tộc Vân Kiều, có thể du ngoạn trên dòng sông, ngắm cảnh, câu cá, thả rập và... thưởng thức những món ăn dân dã tự kiếm được với rau rừng hái bên đồi, cá tôm bắt dưới sông. Dập dềnh trên thuyền, nướng cá ăn với rau rừng và thưởng thức một khúc hát Khắp của đồng bào thì thật là tuyệt.

Thuyền ngược thác Tam Lu.
Thuyền ngược thác Tam Lu.

Tôi đã qua lại trên dòng sông Long Đại kể từ đỉnh cao 1001 cội nguồn phát tích cho đến tận cùng cửa biển, từng đến Tam Lu nhảy thác nhiều lần. Cảnh sắc hai bên bờ đẹp không thể tả. Màu nước, màu trời, màu núi biêng biếc biến ảo. Núi lô xô úp vú ven sông xanh ngằn ngặt thảm rừng lá kim đang mùa thắp nến. Núi tím ngắt sóng soài mệt nhoài xõa tóc như người đàn bà no tình rút hết huyết khí một lần cho một đời. Núi lớp lớp chồm lên như bầy ngựa chiến bạc phếch gió sương của đại quân Tây Sơn Nguyễn Huệ từ kinh thành Thăng Long trở về Phú Xuân. Có khi núi như kẻ chết khát xanh rớt nhoài mình ra mép sông liếm láp chút ẩm ướt tứa lên dọc biền bãi… Cảm xúc ấy không bao giờ cũ. 

Tôi đã bàng hoàng nghe tiếng sáo Pi trầm đục, oai dũng vút lên trong giọng réo ầm ào của thác. Chợt thấy đất trời biên giới Trường Sơn mênh mênh, mang mang. Đó là của già làng Hồ Ai. Ông ngồi bên thác, thổi một điệu Khắp của người Vân Kiều. Già làng Hồ Ai ở bản Khe Cát, Trường Sơn là người hiếm hoi cuối cùng đang lưu giữ và truyền dạy nghệ thuật thổi sáo Pi. 

Với mái tóc trắng như mây ông như một vị tiên hiền nhưng người Quảng Bình xem ông là nghệ sỹ của nhân dân. Nghệ sỹ nhiếp ảnh tìm đến ông. Nhạc sỹ tìm đến ông. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tìm đến ông. Nhà văn tìm đến ông. Nhà báo tìm đến ông. Khách du lịch cũng tìm đến ông... Để nghe ông nói về chiếc sáo có một không hai của mình và được nghe ông thổi những giai điệu linh thiêng của người Vân Kiều. 

Thác Tam Lu có ông và tiếng sáo Pi trở nên hồn phách. Sáo Pi là nhạc cụ cổ của người Vân Kiều ở Trường Sơn. Nó được làm từ thân cây lồ ô già ở tít bên rừng Lào. Nghe nói già làng Hồ Ai phải đi ba ngày đường mới tìm được nó. Từ ngày ông còn trẻ xông pha núi rừng cho đến hôm nay đã gần 80 mùa lấp lỗ, chiếc sáo luôn được ông dắt bên hông. Chung thủy cùng ông. Tâm giao cùng ông. 

Tìm hiểu kỹ đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Vân Kiều mới nhận ra đồng bào có một kênh giao tiếp hết sức đặc biệt thông qua các loại hình dân ca, dân vũ, dân nhạc đặc trưng. Sáo Pi là một loại nhạc cụ được đồng bào sử dụng trong nhiều bối cảnh sinh hoạt khác nhau và tác động hết sức mạnh mẽ đến tâm lý tình cảm của cả hai phía, người nghe và người thổi sáo. 

Bởi vậy chỉ những người đàn ông đã trải những ấm lạnh cuộc đời mới đủ thấu hiểu, đủ dạn dày để sử dụng sáo như phương tiện để bộc bạch tiếng lòng. Họ có thể thổi sáo khi cô đơn độc hành. Lúc đó tiếng sáo u buồn như rỏ máu. Họ thổi sáo khi sum vầy hoan hỉ. Lúc đó tiếng sáo như reo, như ca. Cũng có khi tiếng sáo cất lên như một lời tâm tình, thủ thỉ. Lúc đó tiếng sáo rất riêng tư, chỉ người đáng được nghe mới thấu tỏ. 

Hồ Ai là một trong rất ít người Vân Kiều có thể sử dụng sáo Pi thuần thục trong từng cảnh huống như vậy. Giữa không gian bát ngát của núi rừng biên giới, tiếng sáo Pi là âm thanh khai mở thế giới nội tâm bí ẩn của đồng bào. Tiếng sáo đậu vào núi, núi có hồn của núi. Tiếng sáo đậu vào cây, cây có hồn của cây. Tiếng sáo đậu vào sông, sông có hồn của sông. Tiếng sáo chập chờn trên những con sóng trắng, chập chờn trên những bờ đá Tam Lu, thác có hồn của thác. Người Vân Kiều nói rằng ở nơi đâu có tiếng sáo Pi ở đó là quê hương của họ. 

Nhà Hồ Ai cách Tam Lu khá xa. Ông nói rằng, phải thổi sáo Pi nơi mênh mông mới nghe được cái hay của nó nên những đêm trăng đẹp ông thường đến ngồi bên Tam Lu độc diễn những khúc âm phiêu diêu mây nước. Giữa không gian non xanh nước biếc, mây trời lồng lộng tiếng sáo vút lên khoáng đạt, bay bổng làm chung chiêng con thác, chung chiêng lòng dạ người nghe. Bọn trai gái bản đi sim cũng lũ lượt theo ông chơi nhởi sáng đêm. Thác Tam Lu như chốn thần tiên dưới trần gian.

Thác và người, tạo nên cảnh vật thần tiên…

Trương Thu Hiền

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.