Tạm biệt nhé, đạo diễn, NSND Nguyễn Hữu Phần

Vậy là người đạo diễn già, chào chúng ta ra đi vào buổi trưa, cuối vụ mùa loa kèn trắng. Người ta vẫn gọi, NSND Nguyễn Hữu Phần là “đạo diễn của nhà nông” khi những tác phẩm phim truyền hình của ông trình làng đã khẳng định vị thế nhất phẩm của người đạo diễn về đề tài nông thôn: “Ma làng”, “Đất và Người”, “Gió làng Kình”, “Bão qua làng”…

Và người ta tưởng như quên, thật ra, đã từng có thời kỳ ông còn là “hoàng tử đảo” của những bộ phim với những câu chuyện tình êm đềm, lãng mạn, như bản tình ca du dương, vằng vặc ánh sao trời: “Em còn nhớ hay em đã quên”, “Bản tình ca trong đêm”…

untitled-1.jpg -1
NSND Nguyễn Hữu Phần.

Cũng là một đời người, một chuyến đò sang sông, vậy mà cái thuyền của Nguyễn Hữu Phần thật đặc biệt, ở đó chuyên chở biết bao nhiêu câu chuyện cảm động và lí thú. Những câu chuyện từ cuộc đời tuổi thơ mộc mạc, giản dị ở làng quê nghèo Hưng Yên. Năm ông lên 3 tuổi, bố ông mất, người mẹ tần tảo bươn chải thân cò nuôi đàn con thơ. Một đứa trẻ mất cha từ tấm bé, mọi sinh hoạt trong gia đình đều do mẹ ông, một người đàn bà điển hình của sự cần mẫn, chắt chiu, lam lũ chốn thôn quê. Rồi, dường như, cái sự chân chất nông dân đấy lây sang đứa con trai bé nhỏ. Để sau này ông thành một cậu Phần say việc, ham mê, lam làm.

Cuộc sống khốn khó đầu đời của Nguyễn Hữu Phần bắt đầu từ những công việc kỹ thuật nặng nhọc ngỡ như chả liên quan gì đến tâm hồn sau này sẽ trở thành nghệ sĩ của ông như làm thợ điện, thợ hàn, kéo xe… Tháng ngày lam lũ sớm tối đó đã cho ông thực tế cuộc sống. Mà cuộc sống chính là người thầy vĩ đại, nơi đó chính là hơi thở của những người nông dân, công nhân, những mảnh đời lam lũ tận hiến làm nên những mảnh ghép đẹp đẽ của cuộc sống tươi xanh nhất. Chắt lọc và bơi trong bể hiện thực đời sống, gom góp được một gia tài đời thực với chất liệu ngồn ngộn qua tháng năm đi khắp nơi cùng chốn, sống tận cùng với người lao động, cộng với tư duy đạo diễn và khối óc của một nghệ sĩ lãng mạn, phiêu bồng sau này ông đã cho ra những tác phẩm phim truyền hình dậy mùi “đạo diễn Nguyễn Hữu Phần”.

Cuộc sống hay và kì diệu vì không ai biết trước được tương lai của mình sẽ ra sao. Người ta vẫn thường bám vào hai từ: “định mệnh” ám chỉ duyên số đến như một sự sắp đặt có chủ đích của tạo hóa ban tặng. Và, cuộc đời kỳ lạ của ông dường như có một bàn tay che chở đầy yêu thương của tạo hóa khi cho ông bước vào một ngã rẽ duyên phận. Đấy là lúc ông đang là giáo viên dạy văn thì chơi với người bạn quay phim bên xưởng phim truyện. Mỗi lần gặp gỡ với người bạn là ông lại bị hấp lực của phim ảnh lôi kéo đến mụ mị. Cái ngày mong chờ ấy rồi cuối cùng cũng đến. Ông trở thành sinh viên khóa đầuTrường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

Những tháng năm dài vừa học vừa làm, được theo chân những bậc tiền bối gạo cội trong làng điện ảnh: Phạm Văn Khoa, Bắc Xuyên, Nguyễn Ngọc Chung, Trần Vũ… Những bài học được tích lũy từ thực tế cuộc sống, từ những người đạo diễn đi trước, từ những tác phẩm phim kinh điển của điện ảnh cách mạng Việt Nam đã khiến cho Hữu Phần trở thành một con người mới, đó là con người dành cả đời mình cho điện ảnh. Lúc này, điện ảnh có một thời kì huy hoàng rực rỡ, mang một sứ mệnh cao cả thiêng liêng - điện ảnh chói sáng trên nền trời nghệ thuật đã đưa bao người đến những giấc mơ phim trường. Trong số đó có đạo diễn Nguyễn Hữu Phần. Ông đã nạp nhiên liệu cho mình qua nhiều hình thức khác nhau từ làm trợ lý, thư ký trường quay cho các bậc tiền bối.

“Có chí làm quan, có gan làm giàu”, ông đi học lại từ đầu khi đang là giáo viên và đeo đuổi đam mê bộ môn nghệ thuật thứ 7 đến tận cùng. Một sự dũng cảm thời bao cấp khi mà đồng lương bát gạo luôn là gánh nặng oằn lưng. Ngay cả trong lúc thiên hạ đói ăn, chạy ăn từng bữa, thèm một miếng thịt, một quả trứng thì ông đã dốc sạch, vét nhẵn túi tiền của bản thân để đổ ra nuôi đam mê phim trường lãng mạn. Bộ phim nổi đình đám thời ấy giữa những năm thập niên 90: “Em còn nhớ hay em đã quên” được sử dụng bằng những đồng tiền tích cóp bao năm. Mang bộ phim đi khắp các tỉnh thành trong nước, ông trở thành nhà phát hành phim ngoại hạng. Kể từ đó về sau, ông “dư giả” kinh nghiệm làm một nhà đạo diễn, kiêm sản xuất, phát hành phim mát tay.

Có một dạo, phim mì ăn liền, quay nhanh thắng gọn, làm mưa làm gió các rạp trong nước. Tuy doanh thu sau khi phát hành có nhiều đến mấy, ông cũng không màng. Có lẽ, những người được đào tạo bài bản như ông cộng với việc những tháng ngày rong ruổi, trên từng cây số với các cây đa cây đề - các bậc tiền bối đáng kính đã cho ông một niềm tin, tình yêu sâu sắc với nghệ thuật thứ bảy. Có thế ông mới vượt qua được sự cám dỗ vật chất, sức mạnh của đồng tiền không làm cho ông thay đổi cái nhìn trong sáng, kiên định về nghệ thuật.

phim _ma làng_ là một trong những tác phẩm thành công của nsnd nguyễn hữu phần.jpg -0
Phim “Ma làng” là một trong những tác phẩm thành công của NSND Nguyễn Hữu Phần.

Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần không chịu được cái lối làm phim chộp giật. Với ông những thước phim hời hợt, dễ dãi không thỏa mãn được sự sáng tạo ngùn ngụt và tư duy làm phim nghiêm túc. Ông vẫn cần mẫn với con đường phim trường riêng sâu sắc, táo bạo, sáng tạo. Với tư duy sắc bén của nghệ thuật đạo diễn cộng với con mắt xanh điêu luyện nhà nghề, ông đã “đãi cát tìm vàng” phát hiện nhiều diễn viên và đưa tên tuổi nghệ sĩ lên một tầm cao mới, khi họ bén duyên với những phim do ông đạo diễn. Thu Hiền trong “Mảnh đời của Huệ”, Hán Văn Tình trong “Đất và Người”, NSND Bùi Bài Bình với “Ma làng”…

Cũng một chữ duyên, những năm tháng say nghề rong ruổi trên mọi cung đường của đất nước, chọn bối cảnh để quay, để dựng phim. Đã có không ít lần đạo diễn NSND Nguyễn Hữu Phần cho cậu con trai nhỏ đi theo, và rồi, tình yêu với nghệ thuật thứ bảy này cũng nảy nở lớn dần lên trong tâm hồn của đứa bé thơ, con trai ông, Nguyễn Hữu Trọng. Sau này, vào tuổi trưởng thành, Trọng theo nghề của bố. Hổ phụ sinh hổ tử, ở đâu đó sâu xa, ông có niềm hãnh diện và tự hào về sự hợp gu, ăn ý khi hai cha con có chung một niềm đam mê, có sự đồng điệu về sở thích.

Vào một ngày đẹp trời, tôi gặp ông ở nhà NSND Thanh Tú. Hai người là bạn học của nhau từ thời sinh viên khóa đầu ở Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội. Ở họ có sự thân thiết đặc biệt. Trải qua nhiều sóng gió của cuộc đời, họ từ lâu đã thành bạn tâm giao, tri kỷ. Ông mặc áo sơ mi màu trắng cắm thùng, đeo kính gọng đen, mắt kính trắng.

Họ cùng nhau bàn luận say sưa về một bộ phim và những câu chuyện nghệ thuật đầy hào hứng và sôi nổi. Lúc đó, ông là một trong 7 thành viên của Hội đồng duyệt phim quốc gia. Tôi thấy lửa nghệ thuật trong lòng họ vẫn vẹn nguyên, âm ỉ và dai dẳng, sẵn sàng bùng phát khi vào những đoạn cao trào. Đúng, không thể lầm lẫn được, họ sinh ra để cho nghệ thuật. Tình yêu nghệ thuật, sự hiểu biết về nhau đã đưa tình bạn trở nên thắm thiết. Họ bàn luận về một thời hoa đỏ ăm ắp kỷ niệm, về những tháng năm phim trường qua sự gập ghềnh biến động của thời gian.

Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần kể một câu chuyện, đấy là khi nhà ông còn ở phố Bát Đàn, một trong con phố cổ của 36 phố phường Hà Nội. Một buổi chiều mùa đông có một thầy phong thủy đi ngang qua con ngõ Bát Đàn, vị thầy phong thủy đứng ở ngoài và chỉ vào con ngõ nơi nhà ông ở và nói lớn: “Ai đang sống trong con ngõ này sẽ rất nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật. Khí đất của con ngõ này rất vượng về nghệ thuật”. Và thật trùng hợp, con ngõ đó có đạo diễn Nguyễn Hữu Phần và cậu con trai Nguyễn Hữu Trọng sinh sống. Và quả thật sau này cả hai cha con danh tiếng nổi như cồn.

Tiếng là đạo diễn, ra hiện trường chỉ đạo diễn xuất, làm đủ các lịch trình khác của đoàn làm phim nhưng ông vẫn nho nhã, chả khi nào cáu gắt. Có lần, tôi hỏi ông: “Thường các đạo diễn tính nóng như lửa, vậy mà tại sao ông vẫn nhỏ nhẹ, điềm tĩnh với diễn viên như thế?”. Ông thủng thẳng trả lời: “Cáu gắt có ích gì, càng làm cho diễn viên rối trí. Cách truyền đạt cho diễn viên dễ hiểu nhất là nói từ tốn vừa đủ để diễn viên hiểu. Người nghệ sĩ họ có bình tĩnh thì mới sáng tạo tốt được”. Tuy đã ngoài 70 tuổi, nhưng ông vẫn chịu khó “quan sát” những hậu duệ làm phim điện ảnh sau này. Khi hay tin có bộ phim Việt “hot”, “hit” trên các trang mạng xã hội, ông cũng sẵn sàng mua vé vào rạp xem. Và rồi, với tư duy cấp tiến, ông khen phim hay, xúc động, ông vẫn tìm ra được ánh sáng điện ảnh nơi thế hệ trẻ.

Và giờ đây, trong một giấc ngủ dài của tháng 5 mùa hè với hoa phượng đỏ, hoa bằng lăng tím biếc, hoa vàng rực rỡ trên từng con phố Hà Nội. Ông đã chọn để ra đi vào một mùa tưng bừng và lãng mạn như thế. Tạm biệt nhé, đạo diễn, NSND Nguyễn Hữu Phần.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.