Tài năng thiên bẩm và sự thật thà, vụng về đáng yêu

Đó là Thái Cơ (1934 - 2004), một trường hợp khá độc đáo trong làng nhạc sĩ Việt Nam. Tôi hân hạnh được chơi với ông từ lúc còn là sinh viên tới khi ông qua đời, tức cũng có tới gần 40 năm. Ông hơn tôi 1 giáp nhưng quan hệ bình đẳng, luôn xưng hô "San, mình" chứ không "anh, em". Nhiều khi còn "ông, tôi" cứ như ngang hàng.

Nói đến Thái Cơ, công chúng ở lớp tuổi trên 60 không xa lạ bởi ông là tác giả những ca khúc nổi tiếng ở thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước: "Rặng trâm bầu", "Khi thành phố lên đèn", "Qua bến Đò Quan", "Nghe tiếng trống quê hương", "Nón trắng trên đồng", "Thư ra tiền tuyến", "Trên sông nước anh hùng"... Ca khúc của ông có bản sắc độc đáo riêng khiến ai nghe cũng khó quên bởi thấm đẫm chất liệu dân gian, giai điệu luôn ngọt ngào, đậm đà phong vị đồng quê.

Trong sáng tạo giai điệu, ông thường sử dụng nhiều nốt luyến láy quen thuộc của dân ca Việt Nam nhưng có sáng tạo, mới mẻ chứ không lặp lại nguyên xi. Một thời kỳ dài, những bài hát kể trên của Thái Cơ luôn được vang lên trong các hội diễn, liên hoan văn nghệ cả chuyên lẫn không chuyên nghiệp.

c5a44a8305dedd56e0e86bb0ed3c5e45(2).jpg -0
Phu nhân nhạc sĩ Thái Cơ tặng Bảo tàng Thái Bình những kỷ vật liên quan đến sự nghiệp sáng tác của chồng.

Ít ai có thể nghĩ người nhạc sĩ có những bài hát rất quen biết như Thái Cơ lại chưa hề học qua một trường lớp âm nhạc nào, thậm chí là dự một khoá bồi dưỡng ngắn hạn về sáng tác ca khúc. Nhiều nhạc sĩ lớn, nổi tiếng ở nước ta không học ở trường nhạc chính quy ra cũng là chuyện bình thường. Nhưng hoàn toàn không học, thậm chí là không thạo lý thuyết âm nhạc, không thạo ghi âm như Thái Cơ thì tôi chưa thấy ai.

Nhiều bài ông đã hoàn tất mà chưa ghi ra giấy chỉ vì lúng túng, không biết ghi như thế nào. Nhiều khi ông ghi một đằng nhưng lại hát một nẻo. Tôi nghe ông hát thấy hay hơn ghi trong văn bản nên đã sửa lại đúng như ông hát. Và những lần như thế, ông đã rất thật thà nói rằng: "Tớ sáng tác không vất vả bằng ghi âm. Có khi sáng tác xong một bài chỉ mất chừng 1-2 giờ mà ghi cả buổi mới được, nhất là tiết tấu. Còn giai điệu thì phải dựa vào đàn".

Nghe ca khúc của Thái Cơ, ta thấy ông viết rất chuyên nghiệp, rất hiệu quả, thể hiện một bút pháp cao cường. Nhưng để ý cái cách ông sáng tác rồi ghi âm thì lại rất... nghiệp dư. Ông lẩm nhẩm giai điệu rồi lấy đàn guitar dò dẫm và lần theo phím đàn mà nhìn ra nốt nhạc để ghi ra giấy. Còn tiết tấu thì khi ông đập chân xuống đất, khi đập tay lên bàn mà mò ra âm hình các nốt, xong, gò vào các loại nhịp cho thích hợp. (Sáng tác nhạc chuyên nghiệp không làm vậy, cứ nghĩ trong đầu rồi ghi ra, không phải mò theo đàn). Vậy nên Thái Cơ không thể sáng tác như nhiều nhạc sĩ khác khi ở trên tàu, xe, đi trên đường mà phải trong phòng, có đàn.

Bản thân tôi rất phục Thái Cơ khi ông luôn nghĩ ra được những giai điệu thật độc đáo, có hồn, gợi cảm, bắt tai người nghe. Những bài hát nổi tiếng vừa nhắc ở trên là như vậy. Với con mắt nghề nghiệp dễ phát hiện ở ông sự nhầm lẫn khi sử dụng chất liệu dân ca để tạo nên giai điệu. Nhưng ông không để ý. Tuy nhiên, nghe thấy rất hiệu quả.

Một lần, tôi nói với ông rằng bài "Qua bến Đò Quan" rất hay, nghe thấy rõ hình tượng sông nước mênh mang nhưng anh có biết đã sử dụng chất liệu gì không? Ông nói không để ý, chỉ biết nghĩ ra như thế, thấy ổn là phát triển chủ đề thành bài hoàn chỉnh. Tôi chỉ rõ ông đã khai thác điệu "Hò mài dừa" là một làn điệu dân ca quen thuộc ở Bình Định và khu vực Nam Trung bộ. Ông nói: "Chết! chết! Thế à! Tớ không để ý. Viết về bến Đò Quan ở Nam Định mà như vậy, người sành nghe sẽ phát hiện ra thì cười chết". Tôi nói với ông không sao, miễn bài hay là được. Minh chứng là công chúng rất thích bài này.

Tôi dẫn thêm trường hợp bài "Làng quan họ quê tôi" của Nguyễn Trọng Tạo cũng tương tự. Toàn bộ bài này, tác giả khai thác chất liệu dân ca quan họ vùng Kinh Bắc. Bỗng đến cuối bài, xuất hiện một đường nét dân ca Nam bộ ở câu: "Ấy quan họ về là về trao duyên". Cũng đâu có sao, vì bài hát quá hay, ai nghe cũng thích. Công chúng cũng đâu có để ý đến điều này.

Thái Cơ còn có trí tưởng tượng thật phong phú. Lúc viết bài "Rặng trâm bầu", ông chưa từng đặt chân đến Nam bộ. Khi ấy ở Việt Nam cũng  chưa có Internet để mở Google xem loại cây này có hình thù ra sao. Vậy mà ông đã viết thật hay: "Cho em hỏi rằng có ở nơi đâu, bát ngát xa trông những rặng trâm bầu. Rặng trâm bầu như nơi quê hương em yêu dấu. Uống nước, nước dòng sông, cây xanh thắm một màu...". Ông nói viết như vậy là do nghe những người quê Nam bộ tập kết ra Bắc kể lại. Cũng như vậy, lúc viết bài "Qua bến Đò Quan", ông cũng chưa từng đặt chân đến nơi đây mặc dù cách quê ông không xa: "...Bến nước quê ta ai xa mà chẳng nhớ, nhớ tiếng còi tầm âm vang trong lòng người thợ...".

Sáng tác nghệ thuật là một công việc kỳ diệu, nhiều khi rất khó cắt nghĩa. Hai bài trên Thái Cơ viết khi chưa đến tận nơi, chưa mục sở thị đối tượng đề cập. Trong khi đó, ông từng viết nhiều bài về Tiền Hải (Thái Bình) là quê ông nhưng chỉ có bài "Nghe tiếng trống quê hương" thành công, có sức lan toả rộng: "Sẽ đưa em về thăm quê anh nơi Tiền Hải, nghe sóng biển Đồng Châu vui mê mải hát bốn mùa, nghe tiếng trống năm ba mươi còn lay động đến bây giờ".

Tài năng thiên bẩm và sự thật thà, vụng về đáng yêu -0
Cố nhạc sĩ Thái Cơ.

Là một nhạc sĩ nổi tiếng, từng nhiều năm biên tập ca khúc để xuất bản ở Nhà xuất bản Âm nhạc rồi làm Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội nhưng Thái Cơ luôn coi mình là người sáng tác nghiệp dư. Sinh năm 1934 ở Thái Bình với tên khai sinh là Đầu Vũ Như (mà nhiều người vẫn nhầm họ ông là Đậu). Do yêu thích văn nghệ mà ông sớm nhập ngũ để làm công tác văn nghệ ở Trung đoàn 55 tại Quân khu 4.

Sau ngày hòa bình lập lại (1954), Thái Cơ là diễn viên hát ở Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị. Nhưng tự thấy giọng hát không phát triển, ông chủ động xin chuyển về làm công tác văn nghệ quần chúng ở Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống. Tại đây, lần đầu tiên ông sáng tác bài hát "Tiếng còi thi đua" được giải Nhì cuộc thi sáng tác ca khúc của Hội Nhạc sĩ. Được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu khi ấy đã rất nổi tiếng, là bậc đàn anh giúp đỡ, giới thiệu về làm việc ở Nhà xuất bản Âm nhạc và Mỹ thuật (tiền thân của Dihavina sau này). Ông công tác tại đây cho tới lúc về hưu. Đã nghỉ nhưng được anh em tín nhiệm, bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội kiêm Chủ tịch Hội Âm nhạc Thủ đô.

Thoạt nhìn và mới tiếp xúc với Thái Cơ, khó nghĩ ông là văn nghệ sĩ, càng không nghĩ là nhạc sĩ bởi phong cách xuề xòa, gần như không bao giờ để ý đến trang phục kể cả những khi cần sự trịnh trọng, chu tất. Ông ít đắn đo, cân nhắc khi nói bất cứ điều gì, cứ "hồn nhiên như cô tiên" trong nói năng và hành xử. Nhưng không khiến ai trách cứ. Ngược lại, thấy ông đáng yêu hơn.

Có lần ông hẹn tôi sang 19 Hàng Buồm - trụ sở của Hội Âm nhạc Hà Nội chơi và có ý khao tôi ăn trưa vì vừa đi sáng tác ở cơ sở về, được người ta hậu đãi. Hai chúng tôi chuẩn bị ra quán thì có một nhạc sĩ xuất hiện. Vị này cũng có mối quan hệ tốt với Thái Cơ. Ông nói: "Thôi, bây giờ chúng tớ đi ăn trưa. Dịp khác tiếp cậu sau. Trong túi không đủ tiền mời thêm cậu, thông cảm nhé". Tất nhiên, người bạn kia đành ra về, ít nhiều chưng hửng. Thông thường ở tình huống như vậy, người ta chỉ việc xin lỗi vì bận, phải đi để người bạn kia ra về, chứ không ai lại thật thà nói rõ như vậy, càng không nói chi tiết không đủ tiền trong túi làm gì.

Một lần, tôi đi sáng tác cùng Thái Cơ đến một nhà máy ở Thanh Hóa. Người giám đốc ở đây có máu me làm thơ, đưa cho chúng tôi 2 bài viết về nhà máy của ông, có ý muốn chúng tôi phổ nhạc. Đến ngày báo cáo tác phẩm, tuy phải sửa rất nhiều, gần như đặt lời mới hoàn toàn nhưng tôi vẫn để tên người giám đốc ở phần ca từ. Thái Cơ thật thà nói: "Bài thơ của anh không thành bài hát được. Tôi phải đặt lời khác". Sau đó, tôi nói với ông: "Anh thật thà quá. Mất gì không đề tên ngài giám đốc cho họ sướng". Ông trả lời rất hồn nhiên: "Ông ấy có chữ nào trong ca từ đâu mà đề". May quá, có bài của tôi kéo lại nên sự mất hứng của vị giám đốc hôm đó cũng không đáng kể.

Những năm cuối đời, Thái Cơ bị tai biến phải rời Hà Nội về quê để vợ, con chăm sóc. Ông qua đời năm 2004, thọ 70 tuổi. Về sau, phu nhân của ông đã hiến tặng toàn bộ di cảo, đồ dùng liên quan đến việc sáng tác của chồng cho Bảo tàng tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.