Suýt nữa không có một nghệ sĩ đặc sắc

Là nghệ sỹ bình dị, hòa đồng, rất dễ gần nhưng trong công việc, bà lại rất khó tính. Nhiều bài sau khi thu, biên tập đã thấy tốt nhưng bà vẫn yêu cầu thu lại vì tự thấy chưa vừa ý, còn có thể làm tốt hơn. Điều này khiến nhiều nhân viên thu thanh nói rằng làm việc với Trần Thị Tuyết vừa rất thú vị lại vừa… "sợ".

Vâng. Đó là NSND Trần Thị Tuyết - được coi là người ngâm thơ số 1 của Việt Nam.

Ngoài bà, tất nhiên có những nghệ sĩ ngâm thơ cũng rất đặc sắc, thậm chí còn là bậc thầy của bà như Nguyễn Thị Phúc, Quách Thị Hồ - hai tên tuổi lừng danh trong lĩnh vực ngâm thơ và hát ca trù. Nhưng ngâm những bài thơ cách mạng, hiện đại thì người nổi trội, có đóng góp nhiều nhất, chinh phục trái tim công chúng nhất phải là Trần Thị Tuyết. Bà làm công việc ngâm thơ ở Đài Tiếng nói Việt Nam suốt một thời gian dài, từ 1960 cho tới mãi sau này khi tuổi già, sức yếu mới dừng.

Đã từ rất lâu, Đài Tiếng nói Việt Nam có buổi phát thanh "Tiếng thơ" phát sóng vào 10 giờ đêm chủ nhật hàng tuần. Trần Thị Tuyết luôn xuất hiện trong chương trình này với giọng ngâm mềm mại, trong trẻo như giọt sương buổi sớm. Bà ngâm mà cứ như không, tức là người nghe có cảm giác bà làm việc này rất đỗi nhẹ nhàng, như tâm tình với thính giả, không một chút lên gân khô cứng như không ít người ngâm vẫn mắc. Lên cao hay xuống trầm, bà vẫn duy trì âm lượng đầy đặn, trường hơi. Đặc biệt là rất rõ lời, phát âm giọng Hà Nội chuẩn xác.

NSND Trần Thị Tuyết thời trẻ.
NSND Trần Thị Tuyết thời trẻ.

Mấy chục năm ngâm thơ trên làn sóng, bà ngâm tới nhiều nghìn bài từ những "thiên cổ hùng văn" trong nền văn học cổ của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Trương Hán Siêu, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… đến các nhà thơ cách mạng như Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Hoàng Văn Thụ, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy… và các nhà thơ hiện đại, đương đại khác.

Bà có một phẩm chất nghệ sỹ thật quý: Sẵn sàng đáp ứng bất cứ yêu cầu nào của cán bộ biên tập, miễn hướng tới đích cuối cùng là có được những tiết mục thơ tốt nhất phục vụ thính giả. Thơ của bất kỳ ai, sau khi được duyệt, bà đều nghiên cứu kỹ trước khi thu thanh, không phân biệt tầm cỡ, sự nổi tiếng hay chưa của nhà thơ, tác giả chuyên nghiệp hay không.

Là nghệ sỹ bình dị, hòa đồng, rất dễ gần nhưng trong công việc, bà lại rất khó tính. Nhiều bài sau khi thu, biên tập đã thấy tốt nhưng bà vẫn yêu cầu thu lại vì tự thấy chưa vừa ý, còn có thể làm tốt hơn. Điều này khiến nhiều nhân viên thu thanh nói rằng làm việc với Trần Thị Tuyết vừa rất thú vị lại vừa… "sợ".

Thú vị vì luôn được nghe giọng "vàng" của bà do họ không có thời gian nghe trên đài. Nhưng "sợ" vì mất thời gian mỗi khi bà yêu cầu thu đi thu lại. Một thời gian dài, tôi là cộng tác viên đọc, ngâm thơ của Đài và thường xuyên được làm việc cùng bà.

Trường ca "Sóng Côn Đảo" của nhà thơ Anh Ngọc do tôi và bà cùng thể hiện dài đúng 30 phút. Bà đảm đương ngâm những đoạn lục bát, còn tôi đọc những đoạn thơ thể tự do. Hai chị em ngồi cạnh nhau trong phòng thu, cùng dán mắt vào văn bản mà ngâm, đọc vì ngày ấy kỹ thuật thu thanh chưa hiện đại, chưa thể thu từng phần rồi "lắp ráp" như bây giờ.

Và mỗi khi có "sự cố", dù nghệ sỹ chỉ nhả nhầm một chữ cũng buộc phải thu lại từ đầu chứ không "vá" riêng tiếng đó như ngày nay. Rất nhiều lần khi đang thu trôi chảy, Trần Thị Tuyết bỗng nói: "Xin lỗi, cho mình ngâm lại" mặc dù cả biên tập viên lẫn công nhân thu thanh đều không ai nói gì - tức là đang ổn thỏa. Hóa ra, bà không vừa ý với một tiếng nào đó vừa "nhả". Thế là cả "ê-kíp" thực hiện phải "nối" lại khiến tiến độ thu chậm, bị kéo dài. Sự khó tính của bà đã kéo theo nhiều người "mệt" lây. Nhưng vì bà là nghệ sỹ nổi tiếng, lại có tuổi đáng bậc đàn chị cộng với tinh thần lao động nghiêm túc như trên nên không ai dám phản ứng, chỉ có việc răm rắp làm theo đề nghị của bà.

Tôi nhớ mãi lần ấy là sắp đến Tết nguyên đán năm 1976. Nhà thơ Tố Hữu vừa viết xong bài thơ "Với Đảng, mùa xuân". Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam lúc ấy là Trần Lâm. Ông chỉ thị cho Ban Văn nghệ thực hiện thu thanh bài này để phát đúng dịp Tết. Hai nghệ sỹ ngâm thơ chuyên nghiệp biên chế ở Đài là Trần Thị Tuyết và Vũ Kim Dung cùng hai cộng tác viên là tôi và Linh Nhâm được mời đến nhà riêng của Tố Hữu để ông "bồi dưỡng" trước khi thu thanh (tác giả nói nguyên cớ sáng tác bài thơ và gợi ý cách thể hiện).

Tôi đưa ra lý do để thoái thác: Đã có 3 nghệ sỹ rất nổi tiếng ngâm rồi. Bản thân Tố Hữu tự đọc thơ mình cũng rất hay (tôi từng nghe ông đọc bài "Bác ơi!" rất cảm động sau khi Hồ Chủ tịch từ trần khiến nhiều người nghe đã không cầm được nước mắt) nên không cần thiết phải có giọng tôi đọc làm gì.

Rất thân tình, Trần Thị Tuyết nói với tôi: "Chị nghĩ là em không nên từ chối. Chị cũng hiểu em từng là giáo viên dạy văn ở đại học nên dễ dàng nắm bắt bài thơ. Em làm vậy, người ta sẽ nghĩ em không khiêm tốn, không cần nghe tác giả phân tích gì nữa". Quả là bà đã nói đúng "tim đen" của tôi.

Nể sự ân cần và lời góp ý chân thành của bà, cuối cùng tôi cũng nhận lời. Hôm vào phòng thu, có nghệ sỹ ngâm câu mở đầu bài thơ: "Thơ ơi! Thơ sẽ hát ca gì?" nhưng lại ngắt nhịp thành: "Thơ ơi thơ! Sẽ hát ca gì?". Vì là câu mở đầu cho bài thơ khá dài nên do sợ mất thời gian chung, Trần Thị Tuyết đã không ngần ngại đề nghị "stop" rồi nói với nữ nghệ sỹ kia: "Mình xin lỗi được góp ý: Sau hai tiếng "Thơ ơi!" phải ngắt rồi mới tiếp là "Thơ sẽ hát ca gì" chứ không thể ngâm 3 tiếng liền "Thơ ơi thơ!".

Lúc này tôi mới chú ý vì thấy Trần Thị Tuyết nói quá đúng, chứng tỏ bà rất hiểu thơ. Biên tập viên cũng đề nghị nghe lại câu đầu nghệ sỹ kia vừa ngâm (trước đó có phần xao nhãng) và đồng tình với Trần Thị Tuyết.

Khi biên tập viên đề nghị tôi ngâm một số bài thơ, tôi nói là những bài này đều đã có giọng Trần Thị Tuyết thể hiện rồi, đã quá hay. Cần thì tôi sẽ đọc trên nền nhạc hiện đại chứ không ngâm, vì nếu ngâm lại sẽ không thể vượt qua được cái "bóng" của bà, chỉ khiến thính giả chán. Bà nói luôn: "San phải tự tin chứ. Giọng nam lại trầm như em sẽ có hiệu quả khác. Em ngâm được mà". Rồi tôi được giao ngâm lại bài "Kết nạp Đảng trên quê hương mẹ" của Chế Lan Viên.

NSND Trần Thị Tuyết.

NSND Trần Thị Tuyết.

Bài này trước đó Trần Thị Tuyết đã ngâm rất hay. Tôi ngâm xong, bà cổ vũ và khuyến khích tôi ngâm thêm ngoài việc đọc như bấy nay (đọc thơ trên nền nhạc mới - mélodrame). Bà nói tôi đến nhà bà để bà truyền cho một số kinh nghiệm ngâm thơ. Khi đó, bà ở ngôi nhà cấp 4 tại khu tập thể Nam Đồng (Hà Nội). Bà đã chỉ bảo tôi thật tỷ mỷ cách lấy hơi, nhả chữ, ngâm nga, tránh "cộng minh" như hát. Tôi biết ơn bà mãi từ dạo ấy.

Đến đây, hẳn là bạn đọc sẽ thắc mắc vì sao bài viết này lại có cái tên như trên. Vì sao lại suýt nữa không có một Trần Thị Tuyết như chúng ta đã có? Câu chuyện bắt đầu từ người mẹ của bà. Số là bà có người mẹ ruột là Nguyễn Thị Phúc. Bà Phúc cùng thời với bà Quách Thị Hồ là hai ca nương hát ca trù lừng danh một thời ở Hà Nội, không ai không biết. Thời kỳ mới giải phóng thủ đô (sau năm 1954), bà Phúc được mời đến Đài Tiếng nói Việt Nam ngâm thơ.

Phụ trách chương trình Tiếng thơ lúc ấy là Hồ Tăng Ấn. Sau một buổi thu thanh vào năm 1960, ông Ấn hỏi bà Phúc: "Chị ngâm thơ hay như vậy, thế nhà có đứa con nào theo nghề của mẹ không?". Bà Phúc không trả lời được ngay mà lặng người đi một lúc vì chua xót nghĩ đến thân phận mình rồi mới nói: "Cuộc đời cầm ca của tôi đã tủi cực quá nhiều nên không muốn con cái theo nghề này nữa".

Nhưng rồi bà vẫn nói: "Vậy mà cũng có một đứa con gái thích xướng ca. Nhưng chỉ ngâm nga vớ vẩn thôi. Tôi không cho nó theo nghề mà để ở nhà may vá, đan thuê kiếm sống". Hồ Tăng Ấn lại rất tha thiết: "Thì chị cứ cho nó đến đây ngâm thử xem thế nào". Ông nói vậy vì rất tin là con gái sẽ di truyền tài năng, hồn cốt của mẹ. Bà Phúc lại nhói trong lòng nỗi đau trước sự chân thành, nhiệt tình của người biên tập chương trình vì nhớ lại cuộc đời quá cay đắng của mình.

Lớn lên, bà đã có giọng ngâm, hát ca trù đặc biệt, lại có nhan sắc nên hút hồn nhiều đàn ông. Và duyên số dẫn đến việc bà nhận lời kết tóc với một người "sếp" ga Hàng Cỏ lúc ấy. Trần Thị Tuyết là kết quả của mối tình này.

Nhưng sau đó, vì quan niệm "môn đăng hộ đối" nặng nề của gia đình mà ông đã không vượt qua được, đành phụ tình. Nguyễn Thị Phúc tủi cực ôm con gái trở về nhà bố mẹ trong nước mắt ướt đẫm vạt áo. Trần Thị Tuyết không có cha từ đó. Vậy mà không hiểu sao, sau đó bà vẫn đưa con gái đến ngâm thử và nhanh chóng được chấp nhận do ngay từ buổi "ra mắt" đầu tiên đã quá đặc sắc, thuyết phục được tất cả mọi người.

Lúc này, Trần Thị Tuyết đã 30 tuổi (sinh năm 1930). Bà chính thức trở thành nghệ sỹ ngâm thơ chuyên nghiệp từ đó. Lần ấy, chỉ cần người mẹ của bà cứ ôm mãi đau khổ mà khăng khăng không cho con gái đến Đài thử giọng thì chắc chắn chúng ta sẽ không có Trần Thị Tuyết đặc sắc sau này - giọng ngâm cho đến hôm nay vẫn chưa có sự thay thế.

Về hưu được một thời gian, Trần Thị Tuyết vào cư trú ở TP.Hồ Chí Minh. Nay bà không thể còn ngâm được như trước. Thính giả chỉ còn được nghe lại giọng bà qua làn sóng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...