Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường

Phạm Phú Hải (1950-2009) là gương mặt nhiều bí ẩn và nhiều xót xa trong làng thơ Việt Nam hiện đại. Sau 15 năm Phạm Phú Hải giã biệt dương gian, công chúng bắt đầu tìm thấy và thấu hiểu nhiều giá trị yêu thương ẩn giấu trong cuộc đời của một nhân vật thi ca.

Phạm Phú Hải sinh ra ở Tam Kỳ, Quảng Nam rồi theo gia đình về Đà Nẵng định cư. Năm 20 tuổi, ông bị bệnh tâm thần, và chấp nhận số phận nổi nênh vô định, như ông viết: “Một năm có bốn mùa nhưng tôi biết có một mùa thứ năm/ Không gian có bốn phương nhưng tôi biết một phương thứ năm/ Tôi đang sống trong mùa và phương không tên gọi đó”.

Thế nhưng, cách ứng xử của Phạm Phú Hải thật đặc biệt, như ký ức của nhạc sĩ Vũ Ngọc Giao: “Tuổi thơ tôi có những buổi chiều đứng ở hiên nhà, không có bạn để chơi. Ông thường đến nhà tôi vào những buổi chiều như thế. Từ xa nhìn thấy tôi đứng tựa ở cửa, ông luôn cười, nụ cười thật hiền và gọi tôi. Bao giờ cũng vậy, ông ngồi ngoài vườn chơi một lúc rồi vào nhà ngồi đọc sách đợi cha tôi về. Ngày đó tôi còn bé, mỗi khi ông đến, tôi thích thú nhảy nhót quanh sân vì tôi biết sắp sửa được đi mua kẹo.

Tôi nhanh nhảu ra vườn, len vào những vạt cải xanh tìm bắt những chú dế và những con bọ cánh cứng, đến trước mặt ông, tôi xòe tay ra. Trong đó là một chú dế, cũng có khi là một con bọ cánh cứng đã nằm gọn lỏn. Nhìn thấy chúng, lần nào ông cũng khẩn khoản bảo tôi: “Cho chú xin nó đi! Chú cho con tiền mua kẹo”. Chỉ chờ có vậy, tôi trao “chiến lợi phẩm” cho ông và chạy biến đi. Còn một mình, ông nâng niu, ấp những con dế, con bọ vào vạt cải, thì thầm trò chuyện”.

Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường -1
Phạm Phú Hải năm 16 tuổi.

Sức khỏe yếu đuối, Phạm Phú Hải phải nghỉ học nửa chừng, sau đó cố gắng học hàm thụ để hoàn thành chương trình trung học phổ thông. Phạm Phú Hải làm thơ từ rất sớm, như một cách đáp trả định mệnh: “Có bàn chân dài hơn con đường/ Nên chân trời là những đốt xương/ Của ai bỏ lại ngàn năm trước/ Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường/ Ngủ cũng có đôi khi mở mắt/ Chiêm bao thấy được vạn màu xanh/ Giận quá giận đất trời vô loại/ Nhẫn tâm xô chết những bình minh”. Thơ ông cũng lạc lõng và bơ vơ như chính ông, đi bên lề nhân gian, vừa ngơ ngác vừa mong manh.

Lúc còn tại thế, Phạm Phú Hải tự chọn thơ mình thành ba tập “Tiếng hú đầu”, “Gánh nước tưới sông” và “Thâm lâm ngâm”; nhưng không có cơ hội xuất bản. Năm 2009, người quen gửi tập thơ “Một hôm núi khóc” của Phạm Phú Hải để dự thi giải thưởng Thơ Bách Việt. “Một hôm núi khóc” chưa kịp rời khỏi nhà in, thì ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6/5/2009. Kỷ niệm 1 năm Phạm Phú Hải mất, em gái của ông là Phạm Thị Thuận tiếp tục in tập thơ “Gánh nước tưới sông” an ủi vong linh anh trai nhọc nhằn dương gian: “Tự rút xương làm gậy chống đi/ Lột da chân mà kết làm giày/ Bứt ngàn sợi tóc đan làm mũ/ Nấu chín thời gian uống thật say”.

Phạm Phú Hải từng theo học một thầy lang gốc Hoa và khá giỏi châm cứu. Tuy nhiên, Phạm Phú Hải chỉ mưu sinh bằng nghề ấy được 4 năm, từ 1979 đến 1983. Có hai giai đoạn Phạm Phú Hải tỉnh táo hoàn toàn thì ông đều đi làm với kỹ năng đánh máy. Giai đoạn 1971-1974, Phạm Phú Hải làm thư ký ở công ty nhôm Triều Thạnh. Giai đoạn 1985-1989, Phạm Phú Hải làm nhân viên hành chính ở Nhà xuất bản Đà Nẵng.

Bệnh tâm thần như một sự trêu đùa của Thượng Đế với Phạm Phú Hải. Và ông dùng thơ để chống lại những nỗi phiêu diêu đeo bám tâm trí mình: “Mặt tôi nhìn thẳng mặt người/ Mặt trăng mặt đất mặt trời nhìn theo”. Căn phòng nhỏ của anh trên ngôi nhà đường Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng gây ấn tượng cho bạn bè vì “chật cứng sách quý, nhiều nhất là sách triết và ngôn ngữ, văn chương kinh điển. Mỗi lần có khách, anh thường nói về những người bạn anh quen biết yêu thích văn thơ, say mê viết lách”.

Phạm Phú Hải cư ngụ thân xác ở đô thị miền Trung nhưng hồn vía ông tồn tại ở cõi khác “Sáng dậy điểm tâm bằng điếu thuốc/ Ngày rồi qua mỏng như chiêm bao”. Cho nên, ông có những cảm giác đặc biệt: “Gió đi trên những nóc nhà/ Hồn đi trên những tiếng gà đầu đêm/ Chợt nghe xương cứng trở mềm/ Từng hồi chuông mộ đổ rền dưới da”.

Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường -0
Bút tích của nhà thơ Phạm Phú Hải.

Trong triền miên cô độc, Phạm Phú Hải cũng thầm yêu trộm nhớ một cô gái tên Ngọc. Đó là nàng thơ của riêng ông. Bài thơ “Đà Nẵng mùa thu”, ông viết tặng Ngọc: “Dòng trong đọng bóng Ngũ Hành Sơn/ Sóng lên sóng xuống gợn muôn trùng/ Nửa con thuyền đậu hai màu khói/ Lạnh cánh cò bay ngửa đáy sông”. Thậm chí, ông trực tiếp gọi tên người trong mộng: “Này Ngọc làm sao nói được đây/ Trăng khuya nhớ nắng, đêm trông ngày/ Mắt em vũ trụ chìm trong ấy/ Tôi ngợp hồn chim không dám bay”.

Nhà thơ Nguyễn Kim Huy, người có vài năm làm việc với Phạm Phú Hải ở Nhà xuất bản Đà Nẵng, chia sẻ: “Dẫu tâm trí luôn ở trong thế giới dị thường ấy, anh vẫn biết ơn cõi tạm cuộc đời này đã cho thân anh trú ngụ. Anh biết ơn những bậc sinh thành, lo sợ một ngày cha mẹ ra đi qua chùm thơ viết về cha, mẹ. Và anh yêu, có nhiều bài thơ viết về tình yêu, những bài thơ khắc khoải, say đắm, vô lượng mà anh là một người yêu tận cùng, yêu thầm lặng, yêu tuyệt vọng, yêu chung thủy, yêu không cần đền đáp, yêu chỉ để gởi lại trong thơ và nguyện cầu cho người mình yêu được xinh đẹp, vui sống, hạnh phúc… Yêu trong tâm thế riêng, cách thể hiện riêng, nghẹn ngào mà mãnh liệt, lặng lẽ mà nồng nàn, như yêu cái đẹp, yêu con người, yêu cuộc sống theo cách rất riêng của anh, trong những kỳ vọng anh hằng hướng tới khi anh đối diện thế giới nghiệt ngã và đẹp đẽ mà chúng ta vẫn gọi là cuộc sống này. Những điều vọng tưởng lung linh huyền hoặc ấy, anh gởi hết vào những bài thơ về tình yêu”.

Bất hạnh bủa vây Phạm Phú Hải, nhưng phẩm chất thi sĩ của ông không chịu hao mòn. Đối với ông, mỗi sinh vật xung quanh đều đáng trân trọng. Ông thảng thốt “Vô tình khi xối nước rửa chân/ Em gây trận lụt lớn vô cùng/ Xóm làng chìm ngập màu tang tóc/ Kiến mẹ bơ phờ kiếm kiến con”. Ông nhắn nhủ: “Buổi mai khi quét lá vườn/ Xin em chừa lại giọt sương đầu thềm/ Biết đâu trong luống cỏ mềm/ Một con dế nhỏ suốt đêm đứng chờ”. Ông ngậm ngùi: “Hạt bụi nhỏ ngủ trên da/ Phải chăng từ một phương xa tìm về/ Nước trong ngàn chảy bốn bề/ Em ơi hạt bụi biết về nơi đâu?”.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có một thời gian gần gũi Phạm Phú Hải, tiết lộ: “Phạm Phú Hải là một chàng trai hiền lành, với đôi mắt rất sáng. Phạm Phú Hải yêu tất thảy mọi sinh linh. Yêu thương, với anh là một thứ biệt dược. Đúng hơn, là loại động cơ vĩnh cửu quyết định phản ứng của anh với thế giới. Con người Phạm Phú Hải chắc chắn chưa từng ghét ai. Phạm Phú Hải chơi thân với nhiều nhà sư. Những ngày tôi học ở Đà Nẵng, Phạm Phú Hải thường rủ tôi đến các Phật tự, có hôm qua tận bên Sơn Trà vãn cảnh chùa và đàm đạo với các sư thầy. Phạm Phú Hải chí thú rong chơi trong cõi riêng của mình, ắt nhiên là thứ phiên bản dị thường trong mắt các hồng nhan”.

Sửng sốt kêu lên tiếng dị thường -2
Tập thơ “Gánh nước tưới sông” của nhà thơ Phạm Phú Hải.

Phạm Phú Hải làm thơ không có mục đích gì, không có cao vọng gì. Ông viết như thở, ông viết như chơi: “Làm thêm cho được bài thơ/ Dán lên vách đá ngồi chờ gió bay/ Gió bay bay mất một ngày/ Bay về Tịnh Độ chắp tay lại chào”. Ông viết như cất tiếng gọi bản thân: “Giữa vườn tôi đứng nói mê/ Âm thanh năm cũ chưa về hay sao?”.

Thơ lục bát của Phạm Phú Hải có một giọng điệu độc đáo. Câu sáu và câu tám cứ tung tăng, cứ múa lượn, cứ thảnh thơi mà lại hòa quyện mà lại nảy nở: “Tháng giêng cỏ mọc tháng hai/ Tháng ba cỏ vội mọc dài tháng tư/ Tháng năm cỏ mọc từ từ/ Tháng mười cỏ lại mọc như năm nào/ Em về nắng lạnh trên cao/ Con đường mặt đất cỏ chào chân em”, hoặc: “Anh về quê cũ với em/ Nắng trong mưa chảy rất mềm mặt sông”.

Phạm Phú Hải sống ở mùa thứ năm hoặc phương thứ năm như chính ông thổ lộ. Vì vậy, thơ ông có không gian riêng: “Một hôm núi khóc/ Tiếng lệ chứa chan”, thơ ông có thẩm mỹ riêng: “Một cây ớt/ Mọc ra biết bao nhiêu con chuồn chuồn đỏ”. Hàng trăm bài thơ Phạm Phú Hải gửi lại cho độc giả hôm nay và mai sau, có nỗi đau đớn tạo hóa trớ trêu: “Có lẽ đã thở lầm hơi thở/ Của ai kia từ buổi lọt lòng ra/ Mây trắng quá suốt đời ta nói mớ/ Nên suốt đời mây trắng vẫn bay xa”, nhưng cũng có niềm tin cậy tri âm bất ngờ:“Khi ta lịm ngất bên đồi/ Là trong đáy chén có người khóc ta”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.