Sự quên lãng

Tôi đã đọc những tiểu luận của Milan Kundera nhiều lần và ngay lần đầu tiên tôi đã nhận ra một điều khủng khiếp trong một bài viết của ông: Cơ bản những gì chúng ta viết ra sẽ bị quên lãng gần như ngay tức khắc, kể cả với những nhà văn lớn nhất, chỉ số ít trong số tác phẩm của họ được lưu nhớ và ở lại.

Ấn tượng về sự quên lãng này thật đáng sợ. Công sức bỏ ra của người viết, những nỗ lực của anh ta sẽ thành con số 0 rất nhanh trong cái nghĩa địa văn chương khổng lồ của nhân loại. Vũ Trọng Phụng viết rất nhiều nhưng cơ bản người ta bây giờ chỉ đọc “Số đỏ” và nhắc tới nó. Ngô Tất Tố cũng từng viết rất nhiều nhưng bây giờ người ta sẽ đọc lại những gì của ông? Là “Tắt đèn”, là “Lều chõng”? Ngay một nhà văn nổi tiếng gần đây là Nguyễn Minh Châu thì trong hàng loạt tác phẩm của mình, được ghi nhớ nhiều nhất của ông bây giờ là “Phiên chợ Giát”, “Khách ở quê ra”. Xin phép không nhắc đến những tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa vì đó là vấn đề còn nhiều tranh luận và có những tiêu chí nhất định chi phối.

Nếu một tác giả biết rằng cơ bản những gì mình viết ra sẽ bị quên lãng rất nhanh thì liệu anh ta còn dám viết nữa không? Đây là một câu hỏi rất đáng sợ. Đa số người viết đều mong rằng tác phẩm của mình sẽ sống lâu hơn cuộc đời của người tạo ra nó nhưng sự thực thường không như thế. Đa số những gì chúng ta viết ra có vòng đời rất ngắn, nó chết rất sớm, thậm chí ngay khi mới ra đời, cho dù anh ta cố gắng kháng cự sự yểu mệnh này bằng tất cả những phương tiện và khả năng của mình.

Đây là một điều rất đáng để bàn luận. Đa số các tác giả sẽ cố gắng hà hơi tiếp sức cho đứa con của mình, kéo dài tuổi thọ của nó bằng nhiều cách. Gửi cho nhiều độc giả, cho tái bản, hỗ trợ bằng các phương tiện truyền thông, phê bình để kéo dài tuổi thọ vật lí của nó nhưng tất cả những cố gắng này liệu có mang lại kết quả như ý muốn?

Sự quên lãng -0
Từ trái qua: Nhà văn Ngô Tất Tố, nhà văn Lê Lựu và nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Trong lịch sử văn học đã từng có những nỗ lực rất lớn về việc chống lại sự lãng quên. Nhờ có công sức không biết mệt mỏi của Max Brod để áp đặt lên thế giới văn chương mà những tác phẩm của F. Kafka được nhiều người biết đến hơn và Kafka đi vào danh sách những người bất tử. Tôi đặt giả thuyết nếu không có Max Brod và không có những nỗ lực vô cùng lớn của Max Brod thì những tác phẩm của thiên tài Do Thái có sức sống lâu bền như thế không? Tất nhiên, có người sẽ nói, không có Max Brod làm cho Kafka thì sẽ có người khác. Đó chỉ là một giả thuyết. Những nỗ lực của Max Brod chống lại sự lãng quên các tác phẩm của Kafka có hiệu quả không thể phủ nhận và là một ví dụ rất đáng để tham khảo. Tất nhiên, F. Kafka là quá khác biệt và bản thân ông cũng quá khác thường. Còn những người khác, kể cả những người nổi tiếng và chúng ta quen biết ở văn chương nước Việt như Khái Hưng hay Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng hoặc Nguyễn Minh Châu thì cơ bản các tác phẩm của họ cũng bị quên lãng đáng kể dù bạn đọc luôn coi họ là những nhà văn lớn.

Vậy vì sao có những tác phẩm chống lại được sự quên lãng còn cái khác lại chết yểu rất nhanh. Bởi chỉ những gì thật đặc biệt, thật xuất sắc, thật khác thường mới có khả năng chống chọi nổi với thời gian. Rất nhiều nhà văn đã có ý thức về điều này, cách đây vài năm, một đồng nghiệp của tôi đã nói rằng, hiện tại chỉ có tác phẩm của ba người là Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh có vé đi vào tương lai. “Vé đi vào tương lai” nghĩa là nó tiếp tục được sống một cuộc đời bình thường kể cả sau khi tác giả đã mất. Mọi cố gắng của người viết hoặc ai đó tiếp sức đều thất bại nếu tác phẩm không có những giá trị đặc biệt hoặc khác thường. Tôi bỗng thấy sợ hãi khi ngay cả những tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa những giai đoạn trước, khi chúng được hậu thuẫn bởi hàng triệu học sinh và giáo viên thì rất nhiều trong số chúng đã không được ai nhắc lại nữa. Cái nghĩa địa mênh mông của văn học nghệ thuật có thể chôn vùi bất cứ thứ gì trong cái dạ dầy vĩ đại của nó, nó thăm thẳm sâu và không có biểu hiện gì của đầy ứ hay ngừng tiếp nhận những món mới.

Nhưng nói như thế thì liệu có quá bi quan và sợ hãi với người viết nếu người ta biết rằng hôm nay viết và ngày mai sẽ bị lãng quên? Nhiều người lạc quan và vô tư hơn tôi nhiều. Họ hiểu rằng vòng đời tác phẩm của mình rất ngắn, ngắn hơn cuộc đời của họ rất nhiều hoặc thậm chí họ chấp nhận nó chỉ cần được in ra, trên báo hoặc sách rồi mặc cho số phận của nó. Họ sẵn sàng chấp nhận đứa con tinh thần của mình chỉ được sống được một thời gian ngắn ngủi, bị lãng quên nhanh chóng mà không hối hận hay nuối tiếc. Nhưng đây có thể là một tâm lí rất đáng ngờ, bởi sự sàng lọc và đào thải rất nhanh nên người ta buộc phải chấp nhận cuộc chơi và không có sự lựa chọn nào khác. Không phải tác phẩm nào cũng toàn bích và người viết không thể tự quyết định được. Ngay cả một ai đó bạo gan cho rằng tác phẩm của anh ta là kiệt tác thì chưa chắc nó đã được bạn đọc và dư luận công nhận. Sự công nhận và cuộc đời của tác phẩm  nằm ngoài sự kiểm soát của người viết và bất cứ sự khiên cưỡng áp đặt nào cũng không có hiệu quả, nếu tác phẩm không mang những giá trị đích thực và lâu bền.

Nhưng nếu như thế thì nhiều người sẽ sợ hãi khi viết hoặc viết rất ít vì lo sợ sự lãng quên. Thường trực nỗi lo lắng ấy sẽ không dẫn đến đâu cả. Một nữ nhà văn nổi tiếng của văn học đương đại đã nói với tôi rằng, chị đã có quan niệm khác để viết. Chị cho rằng “Trăm bó đuốc sẽ bắt được con ếch”, nghĩa là cứ viết đi đã. Trong những cái ta viết, có cái dở cái hay, thời gian và bạn đọc sẽ sàng lọc giúp tác giả điều ấy. Chống lại sự quên lãng không phải ý chí cá nhân của riêng người viết mà làm được; đôi khi nó được cộng hưởng bởi không gian và thời gian, những may mắn, thăng trầm hoặc biến cố nằm ngoài sự kiểm soát và năng lực của người viết. Những điều này ta đã từng nhìn thấy trong lịch sử văn học. Ví dụ như ở đầu thế kỉ trước, những tác phẩm của các nhà văn trong nhóm “Tự lực văn đoàn” làm mưa làm gió trên văn đàn, là lực lượng chi phối rất lớn bầu khí quyển văn học lúc ấy. Nhưng đến khi bối cảnh lịch sử thay đổi thì tác phẩm của họ không còn giữ vai trò chủ đạo và chi phối nữa. Hoặc các tác phẩm của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố từng không phải là sản phẩm thời thượng khi mới ra đời nhưng khi có sự lùi lại của thời gian và được cộng hưởng bởi các yếu tố lịch sử, xã hội thì một số tác phẩm của họ lại được đặt lên đài vinh quang…

Lại nữa, những tác phẩm văn học được viết trong thời kì xây dựng hợp tác xã, kinh tế mới ở khoảng giữa thế kỉ trước từng được rất kì vọng và được hỗ trợ rất nhiều thì bây giờ hầu như không còn ai nhắc đến chúng nữa. Chúng đã bị lãng quên rất nhanh, nhất là khi nghiêm túc nhìn lại rằng rất nhiều trong số ấy đã được tạo ra quá dễ dãi và áp đặt ý chí. Sự kì vọng của người viết và của cả những nền tảng hỗ trợ đã không mang lại kết quả như ý muốn, rất nhiều sản phẩm thiếu đặc sắc và cá tính ấy đã đi vào một kết cục không tránh khỏi là sự lãng quên.

Và chính tôi trong thời gian gần đây khi làm công việc chuyên môn liên quan đến một hội nghề nghiệp, tôi đã ngỡ ngàng khi thấy hàng trăm tác giả, hàng nghìn tác phẩm được viết trong thời gian chưa quá xa thì rất nhiều trong số ấy lần đầu được nghe tên. Có những tác giả đã viết đến hơn chục cuốn tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn và đủ thể loại khác mà tôi bây giờ mới biết đến. Tất nhiên sự đọc là mênh mông và không ai đủ sức để bao quát hết được nhưng sự nghiệt ngã của lãng quên cũng vô cùng đáng sợ. Sự quên lãng khủng khiếp này không chừa bất cứ ai hoặc tác phẩm nào. Có lẽ cứ vui vẻ với mình, nỗ lực viết,  cống hiến và chấp nhận những sàng lọc và đào thải của thời gian thì người ta may ra mới tạo được vài ba những tác phẩm có giá trị bền vững và họa chăng “mua vui cũng được một vài trống canh”? 

Uông Triều

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.