Sử gia Lê Văn Hưu - Nhà giáo dục lớn!

Sử gia Lê Văn Hưu (1230 - 1322) người làng Phủ Lý nay thuộc xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa được tôn vinh là người đặt nền móng cho nền Quốc sử Việt Nam. Đỗ Bảng nhãn khi mới 17 tuổi, sau đó giữ chức Binh bộ Thượng thư, Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu quốc sử, ông cũng là người được cho là thầy học của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải.

Từ nhỏ cậu bé Hưu đã có tiếng thông minh. Giai thoại kể về cậu học trò Hưu đến lò rèn mượn cái dùi sắt để đóng sách, ông thợ ra vế đối: “Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt”. Lê Văn Hưu liền đối lại: “Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giành lấy khôi nguyên”. Có đôi chỗ chưa chuẩn về từ vựng nhưng vế đối lại cho thấy đó là người có tư chất, giàu khát vọng.

Đóng góp lớn nhất của Lê Văn Hưu là biên soạn “Đại Việt sử ký” (30 quyển, viết xong năm 1272) - ghi lại những sự việc quan trọng trong gần 15 thế kỷ (từ 207 trước Công nguyên đến 1244). Cuốn sử mang tính nền móng để sau này Ngô Sỹ Liên hoàn thành ngôi nhà lịch sử đồ sộ “Đại Việt sử ký toàn thư” - một kho báu của văn hóa nước nhà. Nhân cách, bản lĩnh, trước tác của sử gia đã để lại những bài học lớn cho hôm nay.

oar2.jpg -0

Bài học về tinh thần yêu nước, tinh thần không chịu yếu hèn, nô lệ cho ngoại bang không chỉ có trong sử, mà còn sâu đậm trong thần thoại, truyền thuyết Việt. Nhưng Lê Văn Hưu có cách viết riêng, thường là đặt vấn đề trong mối tương phản, đối nghịch để làm nổi bật cái đáng ca ngợi, tôn vinh và cái đáng phê phán, chê trách. Bàn về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, ông ca ngợi: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay”.

Ngay sau đó là lời bình: “Tiếc rằng…, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy”.

Đặt trong bối cảnh Nho học phong kiến đề cao đàn ông: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Một nam nói có, mười nữ nói không) cùng quan niệm: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” (Nước nhà được mất, trách nhiệm thuộc đàn ông), càng thấy ý nghĩa của cái mỉa mai mang tính đánh thức tinh thần tự chủ, tự quyết; cái dũng cảm tranh biện với cả một ý thức hệ phong kiến cũ kỹ. “Bọn đàn ông” vốn vẫn lên mặt dạy đời coi đàn bà là “cơm nguội”, thế mà hiện ra thật thảm hại (cúi đầu, bó tay…). Một lời bình đích đáng như thế có giá trị hơn nhiều cuốn sách rao giảng đạo lý sáo mòn.

Chữ “lễ” vốn là điểm tựa ứng xử mang tính quy phạm, chuẩn mực của xã hội phong kiến tập quyền. Là “thiên tử”, thay mặt trời cai quản muôn dân, nhà vua phải là người coi trọng nhất chữ “lễ”. Thế nhưng vua Thần Tông lại phá vỡ quy định nghi lễ, tôn bố nuôi làm “Thái thượng hoàng”, mẹ nuôi làm “Hoàng thái hậu”. Lê Văn Hưu thẳng thắn vạch ra cái sai, lẽ ra chỉ phong làm “Hoàng thúc”, làm “Vương phu nhân” thì mới “một gốc”. Còn như vua đã làm, là đã tạo ra “hai gốc”. Cái thâm ý của sử gia qua cách dùng từ là cảnh báo sự tan vỡ của một triều chính bắt đầu từ sự coi thường lễ nghĩa ở cấp cao nhất. Cây chỉ có “một gốc” mới bình thường. Đây lại “hai gốc”, thì thừa ra một. Điều chẳng lành tất sẽ đến. Đây cũng là bài học cho hôm nay, không vì máu mủ ruột rà mà ban đặc quyền đặc lợi. Hãy vì cái “lễ” chung đối với quốc gia mà làm đúng bổn phận, trách nhiệm.

Cũng bài học về chữ “lễ”, sử gia chê vua Thần Tông, khi “Thái thượng hoàng” băng hà chưa qua một tháng mà đã “bỏ áo trở”, lại còn “đón hai phi hậu vào cung”. Ông mỉa mai, “làm thế thì không biết lấy gì để làm khuôn mẫu cho thiên hạ”. Lời bình còn hướng đến đám “bầy tôi” xu nịnh chỉ biết làm “thần vì” mà “không ai có một lời nói đến. Có thể bảo là trong triều không có người vậy”. Lời bình thật đau, vì nói thế khác nào nói vua quan đều như nhau cả, đều “thất lễ” hoặc đều đã chết. Đi ngược lại chữ “lễ”, coi thường phong tục, tập quán… sẽ là khởi đầu cho “mối loạn”.

Bàn nhiều đến vấn đề triều chính, cũng là một cách để sử gia nêu gương cho đời sau về cách quản trị đất nước. Cuốn sử kể nhiều chuyện lạ về các vua cùng sự thẩm bình, ca ngợi, phê phán rạch ròi, có căn cứ cùng lý lẽ chắc chắn, thuyết phục. Ông quan niệm kẻ làm vua phải biết giữ mình, đừng tham lam, hiếu sắc. Kẻ bề tôi phải biết nghị bàn can gián nhà vua. Ông gay gắt phê phán Lý Nam Đế lập 5 hoàng hậu, vì: “Từ xưa chỉ lập một người để chủ việc nội trị mà thôi, chưa từng nghe nói lập đến 5 người. Tiên Hoàng không kê cứu cổ học, mà bầy tôi đương thời lại không có ai biết giúp sửa cho đúng, để đến nỗi chìm đắm trong tình riêng. Sau đến 2 triều Lê, Lý cũng bắt chước làm theo, ấy là do Tiên Hoàng khởi xướng sự rối loạn thứ bậc vậy”. Một cảnh báo, một bài học: người đứng đầu “chìm đắm trong tình riêng” ích kỷ, hẹp hòi sẽ là sự báo trước cho đại họa!

untitled-3.jpg -0
Lăng mộ nhà sử học Lê Văn Hưu.

Bàn đến “chính danh”, sử gia phê phán vua Cao Tông bắt mọi người gọi mình là “Phật”, là chuyện “không theo phép ở đâu, mà là thích khoe khoang”. Để tránh được bệnh này, trước hết vua phải học hành để biết đến “danh phận”. Chữ “danh” đi liền chữ “phận”, đã là vua thì biết “phận” (sự) làm tốt việc trị dân. Vì ít học nên Cao Tông không hiểu “danh phận” thành ra “khoe mẽ” lố bịch.

Thưởng phạt cũng là phép trị nước. Nếu thiếu nghiêm minh, tất gây ra sự bất hòa, tị nạnh, đố kỵ... Kể lại sự kiện thời vua Thần Tông có bề tôi chỉ nhờ việc dâng con hươu trắng (theo quan niệm hươu trắng là điềm lành) mà được phong quan to, lộc lớn, ông bình luận: “Phàm người xưa gọi là điềm lành, là nói việc được người hiền và được mùa, ngoài ra không có gì đáng gọi là điềm lành cả”. Còn việc nhà vua vì dâng thú mà cho quan tước, là “lạm thưởng”, người không có công mà vẫn nhận thưởng là “lạm dụng”. Về nguyên nhân gây ra sự “lạm thưởng”, qua việc kể lại những chuyện ở triều Thái Tông “thưởng phạt không có phép tắc gì”, sử gia vạch rõ, là do vua “say đắm cái lòng nhân nhỏ của nhà Phật mà quên đi mất cái nghĩa lớn của người làm vua”. Một bài học bật ra: người cầm quyền phải có tầm nhìn xa, công bằng, nghiêm minh, lấy nghĩa lớn làm trọng, không lụy tình riêng...

Ý nghĩa hơn cả từ “Đại Việt sử ký” là bài học thương dân, vì dân, trọng dân sâu sắc. Tác giả lên án Lý Thái Tổ mộ Phật đến mức mới lên ngôi mà đã cho xây “tám chùa” trong khi đó “tông miếu” thờ tổ tông thì “chưa dựng”. Tức coi Phật còn hơn cả ông cha tổ tiên mình. Để dựng nhiều chùa, chỉ có cách “vơ vét bóc lột của dân”, trong khi đó: “Của không phải từ trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng?”. Các câu hỏi đưa ra cũng chính là các câu trả lời. Nhức nhối, xót xa!

Rất đáng tiếc “Đại Việt sử ký” bị thất truyền, nội dung, giá trị nhiều mặt của tác phẩm chỉ còn được thể hiện qua những lời bàn của các sử gia sau này, như Ngô Sỹ Liên (“Đại Việt sử ký toàn thư”), Lê Tắc (“An Nam chí lược”), Lê Quý Đôn (“Đại Việt thông sử”)… Nhưng cũng đủ cho thấy chân dung Lê Văn Hưu - nhà sử học, nhà giáo dục lớn. Từ những cứ liệu trên cũng phần nào cho thấy tiêu chí, đặc trưng của phong cách viết sử rất đáng tham khảo cho khoa học xã hội nhân văn hôm nay.

Một là, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải coi trọng, đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc. Thế nên, ngoài ca ngợi Hai Bà Trưng, ông còn hết lời khẳng định, tôn xưng các anh hùng giữ nước khác như Đinh Bộ Lĩnh (tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời); Lê Hoàn (trừ nội phản, diệt ngoại xâm dễ như lừa trẻ con)…

Hai là, luôn vì dân, đặt quyền lợi của dân lên trên hết. Trên lập trường nhân dân ông đã phê phán, vạch rõ những cái sai trái của kẻ cầm quyền chỉ biết lợi ích riêng cá nhân mình. Ba là, đề cao đạo lý, lễ nghĩa - là rường cột tinh thần quốc gia. Bốn là, tôn trọng quy luật khách quan, vì sự thật mà viết, mà lý giải. Nhờ vậy cách nêu, lý giải vấn đề của ông đã mang màu sắc duy vật, biện chứng khá rõ.

Tin tưởng vào dịp kỷ niệm 800 năm ngày sinh (2030) UNESCO sẽ tôn vinh Lê Văn Hưu là Danh nhân văn hóa!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...