Sự bộc trực đến cực đoan của Nguyễn Đức Toàn

Nói đến Nguyễn Đức Toàn, công chúng yêu âm nhạc, đặc biệt là bộ đội đều rất quen biết bởi tên ông gắn với nhiều bài hát nổi tiếng: “Quê em”, “Bài hát Ngô Mây”, “Noi gương Lý Tự Trọng”, “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Chiều trên bến cảng”, “Tình em biển cả”, “Bài ca người lái xe”, “Đào công sự”, “Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương”…

Ông chẳng những nổi tiếng là một nhạc sỹ tài hoa, một hoạ sỹ bán được nhiều tranh mà còn được biết là một người rất thẳng thắn, cương trực, bộc lộ tính cách một cách mạnh mẽ có phần cực đoan. Ai mới gặp ông, ở những phút đầu dễ nghĩ ông lạnh lùng, khinh khỉnh, khó gần, nhưng nếu chơi lâu, trở nên thân quen sẽ thấy ông rất chân tình, đôn hậu, cởi mở. Hiểu nhau rồi, ông chuyện trò rất rôm rả khiến đối tượng khó rút chân ra được.

Sự bộc trực đến cực đoan của Nguyễn Đức Toàn -0
Cố nhạc sỹ, họa sỹ Nguyễn Đức Toàn.

Tôi coi Nguyễn Đức Toàn như người thày trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc, người anh, người bạn lớn. Tuy hơn tôi đến 17 tuổi nhưng ông xưng hô một cách rất thân mật là “ông, tôi” tuy tôi luôn “anh, em”. Có thể do tôi cũng chân tình, thẳng thắn, sẵn sàng bộc lộ rõ quan điểm và gu thẩm mỹ tương đồng mà ông coi tôi như một người bạn vong niên, đã sẵn sàng tâm sự nhiều điều về cuộc sống và nghệ thuật, không dè dặt.

Ông có tính cách mạnh mẽ, rất “đàn ông” với việc bộc lộ ý nghĩ một cách thẳng thắn, không né tránh, không tìm cách nói khéo để khỏi mất lòng người khác. Nhiều người dễ bị sốc khi nghe ông nói chuyện bởi ông sẵn sàng phản ứng có phần thái quá mỗi khi họ nói những điều ông cho là sai, khó chấp nhận. Nhiều bài hát của Nguyễn Đức Toàn được ra đời từ những kỷ niệm, những nguyên cớ và hoàn cảnh khá thú vị.

Ví như “Hà Nội – một trái tim hồng” nếu không có một lần ông bị CSGT tuýt còi do đi vào đường ngược chiều thì có lẽ bài hát đã không được hoàn thành nhanh như thế. Số là sắp đến dịp kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thủ đô (1994), Nguyễn Đức Toàn được mời sáng tác về Hà Nội. Ông đang loay hoay tìm ý tứ mới vì khi đó đã có nhiều bài hát hay về Thủ đô.

Người sáng tác mà đang trăn trở tìm tòi thì dễ đãng trí, xao nhãng mọi việc khác. Thế là ông đi vào đường ngược chiều mà không biết. Bị CSGT tuýt còi, ông thành tâm xin lỗi và nói lý do vô ý của mình. Gặp đúng chàng CSGT trẻ yêu âm nhạc, đặc biệt là rất thích bài “Chiều trên bến cảng” của ông, anh ta đã “tha”, còn chúc ông sáng tác bài về Hà Nội thành công.

Anh còn lấy làm hân hạnh được quen biết Nguyễn Đức Toàn và xin ông số điện thoại. Thế là sau đó ít ngày, anh gọi điện hỏi thăm ông đã sáng tác xong bài về Hà Nội chưa. Sau kỷ niệm rất đáng nhớ này, Nguyễn Đức Toàn đã có thêm cảm hứng để cho ra bài hát khá nhanh. Ông đã mời người CSGT trẻ đến nhà hát cho nghe. Và đó là công chúng đầu tiên được thưởng thức bài hát nổi tiếng này, tất nhiên là qua giọng hát thô mộc của tác giả. Hôm đó, tôi đang ngồi chơi ở nhà ông, chứng kiến câu chuyện giữa ông và người chiến sỹ Công an trẻ kia. Anh ta nói với Nguyễn Đức Toàn:

- Nhạc sỹ có nhiều bài hát hay vậy mà không thấy sáng tác bài nào về Công an chúng em?

Tôi giật mình khi ông trả lời:

- Thú thật, trước khi gặp rồi tiếp xúc với cậu, mình không có cảm tình với các cậu nên không thể sáng tác. Hy vọng từ cậu mà mình thay đổi được định kiến sai lầm và có thể viết được.

Tôi chỉ sợ ông nói tiếp lý do vì sao ông như vậy nên chen ngang gần như cướp lời ông;

- Bây giờ chắc anh đã hiểu về các đồng chí ấy. Chắc chắn ngày một ngày hai sẽ có bài hát hay về Công an thôi.

Sự bộc trực đến cực đoan của Nguyễn Đức Toàn -0
Tranh của Nguyễn Đức Toàn.

Sau khi chàng CSGT trẻ ra về, tôi nói với ông:

- Anh thẳng thắn quá, lại còn có ý nghĩ chưa chuẩn nữa. Ngành, nghề, địa phương nào cũng có người hay, kẻ dở. Chẳng nên định kiến nghề nghiệp như vậy.

- Tôi phải cái đã định kiến điều gì thì rất khó xoá.

- Nếu không được cậu ấy “tha”, chắc anh còn chưa hết định kiến về họ. Thế là cũng dở đấy. Vì anh ta đã vượt qua nguyên tắc, vượt qua luật  mà tha cho anh. Thế là mọi người không bình đẳng trước pháp luật rồi.

- Thôi. Đếch lý sự với ông nữa. Tôi chịu thua!

Nguyễn Đức Toàn là nhạc sỹ “độc chiếm” sự thành công riêng trong mảng ca khúc viết về những liệt sỹ, anh hùng đã ngã xuống cho sự trường tồn của Tổ quốc. Ông đã “khóc” rất hay, rất sâu sắc về các liệt sỹ. Có lần tôi hỏi vì sao ông chỉ viết về những người đã nằm xuống mà không viết về những người còn sống.

Ông thẳng thắn trả lời: Rất đơn giản vì những người đã khuất thì hành vi anh hùng của họ đã được khẳng định. Họ không còn nhưng công trạng, tác dụng của họ vẫn còn mãi. Họ vẫn sống mãi trong trái tim hậu thế. Còn những người đang sống thì không thể biết thế nào. Có thể hôm nay họ là anh hùng nhưng ngày mai họ không còn giữ được phẩm giá tốt đẹp mà thoái hóa, biến chất. Chẳng đã có người như vậy đó sao?

Nguyễn Đức Toàn khó giấu được những vui buồn, nhất là những lúc không hài lòng, vừa ý điều gì. Kỳ đại hội Nhạc sỹ toàn quốc nào ông cũng phát biểu, đóng góp nhiều ý kiến sắc sảo, chí lý nhưng dễ khiến những người có trách nhiệm mất lòng.

Ví như có lần sau khi phê phán nhiều khiếm khuyết, hạn chế của những người có trách nhiệm điều hành hoạt động của Hội, ông nói cứ tình trạng như hiện tại thì nên giải tán các hội văn học nghệ thuật, ít nhất là Hội Nhạc sỹ vì không có hiệu quả, vô bổ, chỉ gây mất đoàn kết và tốn kém tiền ngân sách của Nhà nước.

Mọi người vỗ tay rào rào, tán thưởng. Không ai nghĩ ông nói vậy vì bất mãn, cay cú điều gì mà chỉ thấy ông quá thẳng thắn, đã nói cái điều mà nhiều người nghĩ nhưng không phải ai cũng dám công khai nói ra. Nói điều trên xong, ông nói tiếp là sẵn sàng chờ đợi việc bị khai trừ ra khỏi Hội. Tuy nhiên, ngay cả những người bị “chạm nọc” cũng cười một cách rất vui vẻ.

Nếu là người khác phát ngôn thì dễ bị coi là do cay cú, bất mãn nhưng với Nguyến Đức Toàn thì không, bởi ông là người có sự nghiệp thành đạt vẻ vang với sự nổi tiếng và những phần thưởng cao quý rất xứng đáng: Được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm 2000, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Ba.

Nguyễn Đức Toàn hay được giới báo chí tìm, muốn phỏng vấn. Tôi từng chứng kiến một nữ phóng viên đến nhà hỏi ông: “Bác có những bài hát nào đáng kể, được nhiều người ưa thích?”. Ông bực mình mời thẳng cô ta ra về: “Cô không biết một bài nào của tôi thì đến phỏng vấn tôi làm gì? Một nhạc sỹ mà không có bài nào để nhà báo họ biết thì có cớ gì để lên báo? Thôi, xin lỗi cô. Hôm nay tôi mệt, có lẽ không tiếp chuyện cô được”. Tất nhiên cô nhà báo phải tiu nghỉu rút lui.

Một trong những điều ông ghét nhất là sự vô ơn, bạc nghĩa, ăn ở không có tình. Ông kể có ca sỹ nọ khi cần bài hát của ông để tham dự một Liên hoan ca hát lớn ở quốc tế thì đến săn đón, năn nỉ xin bài. Đến khi may mắn đoạt được giải thưởng lớn thì về nước đã lặn mất tăm, không hề trở lại báo tin vui với ông và có lời cảm ơn.

Nguyễn Đức Toàn là nhạc sỹ thì ai cũng biết bởi những bài hát nổi tiếng. Nhưng ít người biết ông còn là họa sỹ với tấm bằng tốt nghiệp Trường Cao đẳng Đông Dương danh giá trước đây (Những họa sỹ lớn nhất của nền hội họa Việt Nam đều từng học ở trường này ra).

Ông nói cả âm nhạc và hội họa đều đam mê. Nhưng để có kinh tế thì ông phải trông vào hội họa vì mỗi bức vẽ bán được hàng chục triệu đồng, còn ca khúc thì chỉ thu được hiệu quả tinh thần vì có nhiều bài nổi tiếng mà ông chẳng thu được một xu nào.

Ngày 7/10/2016, Nguyễn Đức Toàn qua đời, để lại một khoảng trống lớn trong làng nhạc Việt Nam và sự hụt hẫng không dễ bù đắp trong lòng công chúng hâm mộ.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.