Số phận lận đận của một danh cầm

Hồi học phổ thông, tôi chỉ nghe tên tuổi Tạ Tấn là người đánh đàn ghi-ta nổi tiếng. Nhưng đến khi là sinh viên, tôi bỗng nghe người ta đồn ở TP Nam Định có một người chơi ghi ta rất giỏi, tên tuổi lan truyền khắp nơi là Hải Thoại. Ai chơi ghi-ta ở Hà Nội khi ấy cũng nhắc đến người này với sự trầm trồ đặc biệt.

Một thời gian sau, tôi nghe nói Hải Thoại đã lên sinh sống ở Hà Nội. Thế là tôi lập tức đến xin học ông. Đó là cái cớ để tôi được quen biết chứ nếu chỉ học để biết đánh đàn này thì ở Hà Nội khi ấy có rất nhiều người cũng dạy. Và tôi trở thành học trò, sau đó nhanh chóng trở thành bạn vong niên của ông.

Mặc dù khi ấy hoàn cảnh ông rất khó khăn, cần có nhiều học trò để tăng thu nhập mới đủ nuôi vợ con nhưng ông vẫn khuyên tôi: “Để chơi a-ma-tơ, đệm cho người khác và tự đệm cho mình hát thì San học thế là được rồi. Còn để trở thành nghệ sỹ chơi ghi-ta chuyên nghiệp thì mới phải học thêm, mà phải vào trường nhạc học đàng hoàng. Nhưng San đã là cử nhân văn chương và có thiên hướng sáng tác thì nên theo đuổi con đường sáng tác hơn.

Vả lại, giả sử mê ghi-ta quá mà bỏ tấm bằng cử nhân để theo học đàn, đi vào con đường chuyên nghiệp thì bây giờ đã muộn. Thường phải học từ năm lên 7-8 tuổi mới có thể thành tài”. Lúc này tôi đã có một vài ca khúc được phát trên đài nên tự tin, lao vào sáng tác. Và dừng việc học ghi-ta. Nhưng vẫn thi thoảng lui tới thăm ông, nghe ông chơi đàn. Ông vẫn sẵn sàng “gà” cho tôi vài ngón đàn khi tôi hỏi.

Nghệ sĩ ghi-ta Hải Thoại.
Nghệ sĩ ghi-ta Hải Thoại.

Hải Thoại ngày càng nổi tiếng hơn khi ngoài biểu diễn, còn chuyển soạn nhiều ca khúc và sáng tác cho ghi-ta độc tấu. Tôi từng mê mẩn mỗi khi nghe bài hát “Quê em” (Nguyễn Đức Toàn) và “Bài ca hy vọng” (Văn Ký) do ông chuyển soạn và diễn tấu.

Phải nói là khó có tác phẩm chuyển soạn nào cho cây đàn này hoàn hảo hơn hai bài trên của Hải Thoại. Bạn hãy nhắm nghiền mắt lại mà nghe ông đánh bài “Quê em” sẽ hình dung được hết bối cảnh vùng quê này trong kháng chiến chống Pháp. Đó là một vùng trung du bán sơn địa đầy vẻ thơ mộng nhưng không kém phần hào hùng, quật khởi khi đương đầu với giặc và chiến thắng.

Trémolo (vê dây đàn) và harmoni (bồi âm) là những thủ pháp quen thuộc trong kỹ thuật diễn tấu ghi-ta từng được nhiều người vận dụng. Nhưng với Hải Thoại, đã phát huy hiệu quả đặc biệt khi ông sử dụng thật đúng chỗ, “đắt”. Mấy lời “Từ mờ sáng tinh mơ” nếu chỉ đánh âm bình thường sẽ không lột tả được hết cái không khí “tinh mơ”, mờ ảo của những buổi sáng sớm ở trung du (vùng Vĩnh Yên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang). Ông đã “bồi âm” mấy tiếng này nghe vô cùng thú vị. Cố nhạc sỹ Nguyễn Đức Toàn phải thừa nhận: “Hải Thoại đã làm cho bài hát của mình hay lên rất nhiều. Mình nghe cậu ấy đánh ghi-ta thích hơn nghe ca sỹ hát”.

Tuy ít gặp nhau nhưng mối tình thâm của tôi và Hải Thoại không gián đoạn. Sau này, tôi còn cho đứa con trai theo học ông từ năm cháu lên 6 tuổi. Đó là khoảng năm 1985 -1986. Lúc này, ông ở khu tập thể Nguyễn Công Trứ tại Hà Nội. Hai vợ chồng ông cùng mấy đứa con chỉ sống trong căn phòng chừng hơn 20m2.

Ông ăn mặc xuềnh xoàng ngay cả khi ra đường, đến những chỗ cần tươm tất, đi chiếc xe đạp cà tàng. Điều đó cho tôi hiểu cuộc sống của ông nghèo khó hơn rất nhiều so với mặt bằng văn nghệ sỹ. Ông hơn tôi đúng 10 tuổi nhưng tình bạn vong niên không hề có khoảng cách.

Ông tâm sự với tôi đủ mọi chuyện buồn vui, nhất là chuyện nghề nghiệp, chuyện liên quan đến những người cùng quen biết. Nhưng không thấy ông nói về chuyện riêng tư, về gia cảnh, nhân thân bao giờ. Tất cả những gì tôi biết được về ông đều do người khác kể.

Và mãi đến bây giờ - sau khi ông đã qua đời được 9 năm (mất năm 2009) – tôi vẫn còn day dứt và tự trách mình đã không hay biết gì về nỗi đau, thống khổ của ông suốt nhiều năm dài. Ông đã từng ngậm đắng, nuốt cay để sống, để đánh đàn và dạy đàn một cách thầm lặng, không màng bất cứ danh hiệu nào.

Khi tôi biết rõ sự thật ngang trái gia cảnh của ông khiến ông phải chịu rất nhiều thiệt thòi, kìm hãm sự thăng hoa thì ông đã ở cõi vĩnh hằng. Ông có bậc sinh thành thật đáng tự hào. Cha ông là một kỹ sư công chính đồng thời là nhà viết kịch nổi tiếng với bút danh Nam Xương. Cụ tham gia cách mạng từ rất sớm, về sau trở thành điệp viên của ta, chui vào hàng ngũ địch để hoạt động.

Như vậy, cái vỏ bên ngoài của Nam Xương phải là phần tử theo địch. Điều này ai cũng phải nghĩ như vậy - trừ tổ chức. Chính điều này mà Hải Thoại cùng những người con khác của kẻ “phản bội” gặp phải hết trở ngại này đến rủi ro khác. Đang học đại học, ông phải rời ghế giảng đường. Lao vào tự học ghi-ta, rồi làm thuê ở Đài Phát thanh cũng chỉ được một thời gian lại bị đuổi khi người ta phát hiện ra lý lịch của ông. Không ai dám nhận một người có lý lịch bất hảo như vậy vào làm việc.

Ông chỉ có cách dạy đàn kiếm sống. Những năm chiến tranh phải đi sơ tán, việc dạy này gần như phải chấm dứt. Ông quay nước mía bán kiếm tiền, đêm về lôi ghi-ta ra ôn luyện kẻo cứng ngón. Chẳng những ông bị mọi cơ quan quay lưng mà nhiều bạn bè cũng dần xa lánh. Đây mới là nỗi đau đớn đáng kể của một nghệ sỹ.

Nghệ sĩ Hải Thoại với cây đàn ghi-ta thân thuộc.
Nghệ sĩ Hải Thoại với cây đàn ghi-ta thân thuộc.

Cho mãi đến sau ngày giải phóng miền Nam, nhà tình báo Nam Xương được công nhận là liệt sỹ. Khi ấy mọi người mới hiểu rõ sự oan khuất của gia đình Hải Thoại. Ông được Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thương nhận vào Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) dạy đàn dưới hình thức hợp đồng rồi đến năm 1979 vào biên chế chính thức.

Lúc này, ông đã 43 tuổi (sinh năm 1936). Nhưng khoảng thời gian không nhiều là giảng viên ở Trung tâm đào tạo âm nhạc lớn nhất nước này đã đủ để Hải Thoại có những đóng góp không nhỏ. Ông đề nghị đàn ghi-ta trở thành một bộ môn chính thức trong chương trình giảng dạy từ sơ cấp đến hết đại học. Ông là người đầu tiên chủ trương thay thế dây sắt bằng dây ni-lon được mọi người hưởng ứng.

Dây ni-lon tạo nên tiếng đàn vừa đầy đặn, vừa ấm áp chứ không lanh tanh, có âm sắc kim khí như dây sắt. Ông cũng kiện toàn giáo trình dạy ghi-ta một cách chính quy. Đặc biệt, nhiều tác phẩm chuyển soạn cho đàn ghi-ta của ông được chính thức giảng dạy trong các khóa đào tạo tại Nhạc viện cho đến tận bây giờ.

Là một nghệ sỹ ghi-ta tài hoa, nổi tiếng nhưng Hải Thoại luôn biết mình, biết người. Một thời gian dài, tại Hà Nội xuất hiện câu lạc bộ ghi-ta thu nạp nhiều người thích chơi đàn này và cũng có dạy tư ở nhà. Nhiều người trong số đó chỉ là “nghiệp dư”, còn thì làm những nghề khác. Là một thành viên, Hải Thoại được mọi người quý mến bởi sự hòa đồng, chân tình, không bao giờ tự coi mình nổi tiếng. Nhiều bậc cha mẹ rất thích cho con học ông ngay cả khi ông đã về hưu, tức không còn vai trò gì trong việc giúp con họ thi vào bộ môn ghi-ta ở Nhạc viện (gọi là học “ô”, học “dù” theo thông lệ).

Thấy nhà họ ở cách xa nhà mình, ông đã giới thiệu họ đến học người khác có địa chỉ thuận tiện hơn. Nhưng họ vẫn cứ muốn cho con học ông mặc dù ở xa đến chục cây số. Tôi luôn chứng kiến cả chục cháu chờ đợi, ngồi chật ních nhà ông (bố mẹ cháu tế nhị đi chỗ khác, đến giờ quay lại đón con). Ông không ấn định học phí chung mà tùy theo từng hoàn cảnh. Cháu nào con nhà nghèo, ông thu ít. Dân buôn bán hoặc con nhà VIP, ông thu nhiều hơn. Nhưng dạy trò nào cũng hết mình.

Ông có tính cách khảng khái, rất “kẻ sỹ Bắc Hà”. Một lần tôi chứng kiến ông từ chối, không nhận dạy một người đàn ông đã ở trạc “ngoại tứ tuần”, ăn mặc bảnh bao, có vẻ là dân kinh doanh đến đặt vấn đề nhờ ông dạy để đánh được mấy bài cụ thể khi anh ta chưa biết chơi chút gì. Hải Thoại cho anh ta biết đã lớn tuổi, tay cứng, chưa sờ đàn bao giờ, lại học luôn những bài cụ thể vào loại khó thì không thể được. Anh ta bèn nói:

- Tôi sẽ trả anh tiền công một buổi bằng cả tuần anh dạy với điều kiện anh cố sắp xếp theo lịch của tôi và dạy để tôi đánh bằng được. Cần thì anh dẹp bớt đám học trò lau nhau kia đi, không bõ công.

Hải Thoại cho anh ta bài học:

- Anh biết tôi có nhận lời hay không mà đã ra điều kiện. Anh không thể học được đâu dẫu có trả tôi bao nhiêu tiền chăng nữa, vì đánh đàn đâu chỉ bằng tay.

Nói rồi, ông đứng lên chủ động chìa tay ra bắt, tống tiễn người khách hợm hĩnh ra khỏi nhà mình.

Nhắc đến Hải Thoại, ngoài ngón đàn rất tài hoa, điêu luyện, các học trò của ông hôm nay có nhiều người cũng đã rất nổi tiếng đều nhắc đến những chuyện về ông đại loại như thế.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.