Sau vang xa tiếng hát, một ánh mắt cười

Tôi sững sờ nhận tin từ một đồng nghiệp ở Vinh báo tin ông Nguyễn Hữu Thuông đã “về” với những người anh, người bạn từng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ ấn tượng một thời của quê hương Xứ Nghệ và cả nước: Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Phạm Đình Nguyên, Thái Kim Đỉnh, Nguyễn Trung Phong...

Đó thực sự là những người thầy của nhiều thế hệ làm công tác văn hóa văn nghệ, những người để lại những dấu ấn lớn trong đời sống văn hóa, tinh thần của nhiều người. Rằng, bắt đầu từ quê nhà với những công việc xuất sắc, những thành công sau năm tháng bền bỉ, mọi việc sẽ lan tỏa rộng rãi, ra các tỉnh thành khác, ra cả nước như một lẽ tự nhiên.

Và, ký ức về những năm tháng ấy cứ ùa về…

Đầu những năm 80 thế kỷ XX, lứa chúng tôi là những sinh viên mới ra trường, rủ nhau về quê nhận công tác, phần nhiều làm việc trong các cơ quan báo chí và tất nhiên đều được giao mảng văn hóa, văn nghệ.

Phải nói rằng, đó là thời kỳ sôi nổi, nhiều dấu ấn, nhiều sự kiện để những người trẻ như chúng tôi tha hồ nhập cuộc, dấn bước. Bấy giờ chỉ riêng mảng văn hóa quần chúng đã có biết bao nhiêu “đơn vị tin/ bài” từ hoạt động của các đoàn, đội, chương trình văn hóa, văn nghệ từ các công ty, xí nghiệp, nông trường, trạm, trại, các huyện, thành, thậm chí các xã dàn dựng, biểu diễn định kỳ, thường xuyên, đột xuất… Và điều đáng nói, điều đáng tự hào là trên nền chung phong trào rộng khắp đó, những người làm công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa ở quê hương Bác Hồ kính yêu đã biết chủ động tìm tòi, sáng tạo để phong trào thực sự đi vào chiều sâu, chất lượng mọi mặt được nâng lên, thu hút rộng rãi sự tham gia không chỉ của một tỉnh mà nhiều tỉnh, thành và cả nước.

ong.jpg -0
Ông Nguyễn Hữu Thuông tại phòng làm việc.
Đó chính là “Liên hoan Tiếng hát từ Làng Sen” và sau này là “Lễ hội Hát từ Làng Sen” mà người có công đầu là ông Nguyễn Hữu Thuông, bấy giờ là Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin Nghệ Tĩnh.

Báo chí đã phản ánh tương đối đầy đủ câu chuyện ông Trần Hữu Thuông cùng các cộng sự đã dày công như thế nào để có được “Liên hoan Tiếng hát từ Làng Sen”, xin phép không nói lại. Tôi chỉ thưa rằng, kể từ lần đầu tiên được chứng kiến không khí và chất lượng của Hội diễn, cũng như liên tiếp nhiều năm sau đó, ở đâu và bất cứ lúc nào không ai có thể quên được vai trò, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả công việc của Trưởng ban tổ chức Liên hoan qua nhiều kỳ, nhiều năm là ông Nguyễn Hữu Thuông.

Bản tính sôi nổi, hoạt bát, xởi lởi với bạn xa, bạn gần, nói là làm, nụ cười thay cho lời chào, lời mời… của ông khiến cho mọi việc từ bộn bề, ngổn ngang trở nên ngăn nắp, khuôn khổ kỳ lạ. Mỗi kỳ Liên hoan là một núi công việc lớn nhỏ khác nhau, từ lo khâu tổ chức, đón tiếp, nơi ăn, chốn ở cho các đoàn, đến chăm lo nội dung, chương trình, sân khấu biểu diễn, lo Ban Giám khảo, khách từ Trung ương, tỉnh bạn, địa phương, công tác tuyên truyền… kỳ nào cũng chu tất, vẹn toàn, tuyệt đối không có tiếng to, tiếng nhỏ nào.

Hơn thế nữa, người ở lâu, làm việc lâu và gắn bó công tác quản lý với cơ sở như các ông Lê Thái Sơn, Trần Hồng Cơ (Phòng Văn hóa - Văn nghệ thuộc Sở) thì cứ “automatic” lớp lang thế là mọi việc “chạy” đều đều, còn những người mới gặp, mới làm việc thì không hiểu sao cứ “hút” ngay vào công việc, yên tâm, phấn khởi, không một chút so đo.

Tôi nhớ là hồi đó, trước và sau mỗi kỳ Liên hoan, bao giờ Giám đốc, Trưởng ban Tổ chức Liên hoan Nguyễn Hữu Thuông cũng cho mời anh em báo chí Trung ương và địa phương gặp gỡ, chuyện trò thân mật, sau này gọi là họp báo, cung cấp thông tin. Ông tin cậy vỗ vai, hỏi han từng người, chuyện tưởng như chả có gì mà cứ đâu vào đó, kiểu vui là chính, vui thì mới làm được văn hóa, văn nghệ, không hứng thú, không vui sao làm nổi việc gì…

Nhưng sự thực, tôi tin chắc những biểu hiện gần gũi, tưởng như xuề xòa đó lại là kết quả, kết tinh từ bao năm tháng hoạt động của một con người tham gia Việt Minh từ ngày còn trai trẻ, của một chiến sĩ pháo binh trong kháng chiến chống Pháp, của một người 20 tuổi đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng, của một người từng vinh dự được gặp Bác Hồ trong một chương trình biểu diễn văn nghệ sau chiến thắng Điện Biên với những ấn tượng theo suốt cuộc đời để quyết phải làm bằng được một vài việc nào đó mà ông tâm đắc, theo đuổi.

Để rồi sau này, trong mỗi hoạt động của mình, Nguyễn Hữu Thuông luôn trăn trở, băn khoăn làm sao công việc ngày một tốt hơn, ngành văn hóa ngày càng đóng góp nhiều hơn cho công cuộc xây dựng đời sống văn hóa, tiếng hát, tiếng lòng của mỗi người con dân đất Việt, cháu con Bác Hồ ngày càng vang ngân xa hơn, đi vào lòng người nhiều hơn…

img_4543.jpg -0
Ông Nguyễn Hữu Thuông (đeo kính) dự hội nghị tổng kết ngành Văn hóa tại Nghệ An.

Tôi nhớ những kỳ Liên hoan đầu tiên, Đội Văn nghệ Kim Liên –Nam Đàn thường là đơn vị đầu tiên được mời biểu diễn khai mạc. Không thể so sánh với chương trình của các đơn vị khác, nhưng những tiết mục của Kim Liên - Nam Đàn lúc nào cũng được giám khảo đánh giá cao, người xem cổ vũ nhiệt liệt. Khi Liên hoan mở rộng ra các tỉnh khác và toàn quốc, nhiều người rơi nước mắt khi xem/ nghe tác phẩm “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” của đoàn Cao Bằng, “Làng Chăm ơn Bác” của đoàn Bình Thuận, “Chúng con bên giấc ngủ của Người” của Đoàn CAND… bên cạnh những tác phẩm âm nhạc từng vang lên nhiều lần, càng nghe càng thấm thía, xúc động từ quê hương Bác: “Mẹ Làng Sen” (Lê Hàm), “Nhà mẹ có ảnh Bác” (Phan Thanh Chương) và nhiều tác phẩm xuất sắc khác…

Từ việc biểu diễn gói gọn trong sân khấu bình dị của Trung tâm Văn hóa, chuyển ra chương trình biểu diễn rộng rãi, được truyền hình/ phát thanh trực tiếp trên sân khấu Nhà Văn hóa Lao động tỉnh vào mỗi dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ là một bước tiến lớn của “Liên hoan Tiếng hát từ Làng Sen” tới “Lễ hội Hát từ Làng Sen”, một lễ hội văn hóa mang tầm quốc gia, có công lớn của ngành Văn hóa, trong đó người khởi nguồn, công đầu là ông Nguyễn Hữu Thuông.

*

Tôi vẫn khép nép xưng cháu, gọi chú mỗi lần gặp gỡ, trò chuyện với ông. Khi nói chuyện về “Liên hoan Tiếng hát từ Làng Sen”, phần lớn ông chỉ cười, xoa tay “Công lao nhiều người, cháu ơi. Chú có tham gia một phần! Mà nếu hồi đó cứ bằng lòng với kết quả đã có, không chịu khó đề xuất, chạy tìm việc mới, việc hay thì đâu có chuyện để nói với các nhà báo trẻ hôm nay nhỉ?”. Ông nói thế khiến tôi càng khâm phục sự khiêm tốn, bình dị của một người đi qua hết thảy nóng lạnh của cuộc sống, không quan trọng hóa mọi việc nhưng cũng tuyệt đối không xem thường chi tiết nhỏ, vụn. Và tôi luôn nhớ ông với hình ảnh quen thuộc: mớ tóc xoăn, cặp kính trắng và khóe mắt cười.

Sau ngày nghỉ hưu ở quê nhà, có lần ông gọi điện cho tôi, mời xuống “dự và đọc thơ với Hội thơ Nghi Xuân - Nghi Lộc”. Tôi nhận lời ngay vì luôn nghĩ ngày còn làm việc, đến với ông là bình thường, nay ông nghỉ hưu có cơ hội là đến ngay. Chương trình thơ ở Nghi Xuân khá xôm tụ, thu hút nhiều người ở Vinh và phụ cận về tham gia. Ông Nguyễn Hữu Thuông vẫn là “nhà tổ chức” sau cánh gà, nhường hết mọi điều cho bạn bè gần gũi.

Tan cuộc, ông chạy lại cầm tay, ríu rít cảm ơn mọi người như tôi vẫn thấy hình ảnh này mấy chục năm về trước, trong “Hội diễn Hát từ Làng Sen” mỗi tháng 5 về…

Và giờ đây, chắc ông lại đang vui cùng các bậc tiền bối văn nhân ở thế giới bên kia.

Bùi Sỹ Hoa

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.