Sách về Thái sư Lê Văn Thịnh: Những sai sót không đáng có

Gần 350 trang sách "Thái sư Lê Văn Thịnh (1050 - 1096): cuộc đời và thời đại" (NXB Khoa học xã hội, 2016) do Hội Sử học Hà Nội biên soạn có nhiều nội dung... đoán mò lịch sử.

Vua Duy Tâm là ai?

Trong phần phụ lục các đạo sắc phong thần cho Thái sư Lê Văn Thịnh, nhiều lần nhắc đến vua Duy Tâm. Đó là Đạo sắc niên hiệu Duy Tâm thứ 3 (1909) tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh - thôn Bảo Tháp (tr. 318); Đạo sắc phong niên hiệu Duy Tâm thứ 3 (1909) tại đình Hiệp Sơn (tr. 322); Đạo sắc phong niên hiệu Duy Tâm thứ 3 (1909) tại đình Đình Tổ (tr. 327). Vậy vua Duy Tâm là ai? Đối chiếu theo thời gian thì đó là vua Duy Tân - vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1907 đến năm 1916, chứ Việt Nam không có vua… Duy Tâm.

Những người biên soạn và biên tập cuốn sách này còn chưa kỹ lưỡng khi một số nhà khoa học đề học hàm, học vị trước tên, nhưng một số nhà khoa học đáng kính trọng khác lại chỉ đề tên không như: Quỳnh Cư (tr. 57), Nguyễn Duy Hinh (tr. 91), Hoàng Xuân Chinh - Trịnh Cao Tưởng (tr. 135). Những nhà khoa học này, người còn, người mất, và họ đều có uy tín, bậc thầy của một số vị có học hàm, học vị trong sách này. Hoặc có khi lạm phong lên Giáo sư cho Phó Giáo sư Tống Trung Tín (tr. 157).

Còn có điều hơi lạ, TS Nguyễn Huy Hạnh (Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội) tác giả "Những kiến giải đa chiều tạo nên tính thống nhất minh oan cho danh nhân Lê Văn Thịnh" (tr. 141 - tr. 154). Thực chất, bài viết là tóm lược lại các tham luận tại Hội thảo về Lê Văn Thịnh được Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Bắc tổ chức năm 1993. Các bài quan trọng nhất thì đều đã được in lại trong sách này. In thêm bài này, chẳng hóa ra thừa giấy?

Suy diễn lịch sử

PGS Tống Trung Tín (Viện Khảo cổ học) trong bài "Vài nhận xét tản mạn về Thái sư Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dưới góc nhìn khảo cổ học", nếu lọc bỏ những mỹ từ mang tính văn học như "vị vua anh minh vào bậc nhất", "nhân vật lịch sử văn hóa lớn", "vinh quang đỗ đầu" thì những lập luận về sử liệu lại khá xộc xệch, lỏng lẻo, suy diễn.

Đầu tiên, PGS Tống Trung Tín viết: "Năm 1906, bỗng nhiên diễn ra "Vụ án hồ Dâm Đàm" (tr. 157). Năm 1906 - chẳng hóa ra Lê Văn Thịnh sống thọ đến hơn 800 tuổi - ngang với ông Bành Tổ trong truyền thuyết ở bên Tàu? PGS Tín dẫn sử liệu cũng sai: Sử cũ chép "Bính Tý, năm thứ 5 (1906)… Mùa xuân tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang". Sử cũ mà PGS Tín dẫn là tư liệu nào? Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", vụ án hồ Dâm Đàm xảy ra vào năm Ất Hợi (1095) và tới năm 1096 thì Lê Văn Thịnh bị đày đi Thao Giang.

Trang 159, viết về chùa Bảo Tháp, PGS Tống Trung Tín khẳng định: "Chắc chắn, chùa này thời Lý là tháp cho nên địa danh làng có tên là làng Bảo Tháp". Đây là khẳng định võ đoán, không có cơ sở. Ngay câu trước đó, GS Tín đã viết: "Theo truyền thuyết dân gian thì đây là nơi nhà ở của Thái sư Lê Văn Thịnh". Đã dựa vào truyền thuyết dân gian thì đâu còn "chắc chắn".

Là chuyên gia khảo cổ học, ông Tín cần chứng minh bằng các hiện vật thu được tại đây để làm rõ tháp to hay nhỏ, lớn hay bé, có phải tháp kiểu Phổ Minh hay Phật Tích không? Hoặc tên địa danh Bảo Tháp có tự bao giờ? Trong tiểu sử đương thời của Lê Văn Thịnh có ghi về Bảo Tháp không hay đời sau thêm vào? Còn võ đoán rồi phán bừa thì đó không phải người làm khoa học.

Nhiều chùa ngay thời Lý và sang thời Trần không có tháp. Rồi cái tên Bảo Tháp không phải chỉ có ở Bắc Ninh; sang xã Kim Hoa, huyện Mê Linh (Hà Nội) cũng có làng Bảo Tháp; thậm chí ở thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) còn có địa danh Tháp Miếu thì giải thích trong miếu có tháp ư?

Trang 161, GS Tống Trung Tín viết: "Tục các thời sau lập đền thờ cúng ở Việt Nam thường chỉ dành cho các nhân vật có công lao lớn với dân với nước". Viết vậy có lẽ tác giả đã quên những nơi thờ biểu tượng tự nhiên và cũng chưa biết đến những ngôi làng thờ thần ăn mày (Thanh Hóa); thần ăn trộm (Thái Bình)… Ngay cửa ngõ vào nội thị Thủ đô, có nơi thờ  thành hoàng là người… gắp phân, mà ca dao mới có câu: "Thanh niên (nơi ấy) xin thề/ Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương".

Sau đó, GS Tín viết tiếp: "Hiện trạng thờ cúng Thái sư Lê Văn Thịnh ở Bắc Ninh đã phản ánh rõ ràng mặc cho "vụ án hồ Dâm Đàm" vẫn còn bí ẩn, nhưng nhân dân bao giờ cũng là vị "quan tòa" anh minh nhất. Phải là một nhân vật công lao tầm cỡ thế nào đó mới được truyền đời thờ phụng như vậy. Do vậy, tôi nghĩ rằng việc xem xét "vụ án hồ Dâm Đàm" là một loại vụ án đầy oan khuất đối với Thái sư Lê Văn Thịnh là có cơ sở nhất định".

Ở trên chúng tôi đã nêu ví dụ về những vị thành hoàng kỳ dị, nay xin nói thêm các làng thờ phụng người ăn mày, kẻ cắp là bởi họ chết vào giờ thiêng. Dân làng thờ cúng với tâm lý giúp dân làng xua đi rủi ro, bảo trợ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng làng, chứ không phải chỉ có "công lao tầm cỡ thế nào".

Từng nhiều năm là người đứng đầu Viện Khảo cổ học nhưng ông Tống Trung Tín viết như thế là tùy tiện mà không có sở cứ nào: "Di tích ngôi mộ lớn của Thái sư không có quan tài và hài cốt đã phần nào phản ánh sự thực của việc đã xảy ra vụ án lớn đối với Thái sư Lê Văn Thịnh dưới thời vua Lý Nhân Tông.

Ngay khi kết cho Thái sư một tội án tày trời định cướp ngôi vua Lý mà Lý Nhân Tông không xử tội chết cũng lờ mờ cho thấy dường như Lý Nhân Tông cũng mơ hồ nhận thấy rằng vụ án còn có điều gì đó chưa được ổn lắm. Tuy nhiên sự thực là như thế nào thì chắc chắn vẫn còn rất lâu mới có thể giải mã được" (tr. 161 - 162).

Đã "lờ mờ" và "mơ hồ" thì mọi điều chỉ là giả thiết đặt ra. Cần phải có tư liệu lịch sử đối chiếu thì mới rút ra thông tin xác thực, có độ tin cậy, có sức thuyết phục.

Đặc biệt ngạc nhiên khi ông Tống Trung Tín tán về tượng Xà thần: "Việc phát hiện tượng Xà thần ở đền Thái sư là rất ứng với nhân vật Lê Văn Thịnh biểu thị cho công lao của Thái sư cũng như công đức lưu truyền của Thái sư. Bức tượng được tạo tác rất giỏi, rất thành công, rất hiện thực kết hợp với yếu tố cách điệu để nhấn mạnh quyền uy của nhân vật được thờ. Đó quyết không phải là sự diễn tả nội tâm giằng xé và quằn quại của Lý Nhân Tông như một số ý kiến đã phát biểu" (tr. 162).

Điều này, GS Phan Huy Lê đã kết luận: "Còn tượng đá tạm gọi tượng Xà thần hiện đặt tại đền thờ Lê Văn Thịnh vốn ở chùa Đồng Lâm trên núi Thiên Thai sau bị quân Pháp phá xây lô cốt, ủi xuống chân núi và tìm thấy năm 1993. Tượng này không liên quan đến Lê Văn Thịnh và cần nghiên cứu gắn liền với chùa Đồng Lâm. Trong nguồn gốc văn hóa của đạo Phật ở đây".

Không có cơ sở về niên đại Lê Văn Thịnh

Ngay mốc năm sinh, năm mất trong tiểu sử danh nhân Lê Văn Thịnh đã không có cơ sở khoa học. Giải thích về mốc niên đại (1050 - 1096), TS Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, ngay trang 9 cuốn sách cho biết: được chọn trên cơ sở tư liệu trong "Thần sắc" do Nguyễn Bính phụng soạn dưới triều Lê cuối thế kỷ XVI và ghi chép của "Đại Việt sử ký toàn thư".

Song GS Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội KHLS Việt Nam đã bác bỏ luận điểm này vì việc sử dụng truyền thuyết dân gian hay thần tích rất hạn chế giá trị thông tin khoa học. "Theo thần tích do Nguyễn Bính soạn, Lê Văn Thịnh sinh ngày 11 tháng 2 năm Canh Dần (1050), nhưng chưa có cơ sở nào để xác minh niên đại này. Chúng ta biết chắc chắn hai niên đại: ông thi đỗ Minh Kinh bác học và Nho học Tam trường năm 1075 và bị đày năm 1096. Như vậy, ông sinh ra, lớn lên và hoạt động khoảng nửa sau thế kỷ XI", GS Phan Huy Lê kết luận.

Do GS Nguyễn Quang Ngọc "đặt nhiều kỳ vọng" ở kết quả nghiên cứu và thảo luận về Thái sư Lê Văn Thịnh để "có thêm cơ sở chính thức đưa vào Lịch sử Việt Nam tập V (1009 - 1226) thuộc Đề án Khoa học xã hội cấp Quốc gia xây dựng bộ sách Lịch sử Việt Nam 25 tập", cho nên chúng tôi nghĩ rằng, bài viết này sẽ góp phần nào đó điều chỉnh những sai sót để khi đã vào "Quốc sử" những sử liệu và luận điểm khoa học được chính xác hơn.

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.