Sà vào chiếu xẩm chợ Lồng

"Con người của xã Yên Phong nói chung và huyện Yên Mô thuộc đất Ninh Bình của cố đô xưa nó lạ lắm, chả giống với bà con trong thiên hạ tý nào đâu. Anh tính, ai đời, với chúng tôi, hàng ngày ngoài cơm nước ra không kể, thiếu thức gì thì thiếu chứ nhất định không thể thiếu "cái món" hát xẩm được. Xẩm với người dân đất này chả khác gì hơi thở đâu, thật đấy!" - Ông Vũ Văn Phó, một trong những người học trò "cưng" của cụ Hà Thị Cầu, nghệ nhân hát Xẩm lừng danh đất Việt, đã mở đầu câu chuyện với tôi như thế.  

Ông Phó kể: Chuyện rằng, ngay sau khi ra đời, hát xẩm đã từng trở nên rất hưng thịnh. Nhưng thời nào kim cương ấy. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước trở đi, vì nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan. Rồi thì do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm, các phường xẩm không riêng gì ở đất cố đô Hoa Lư xưa cứ lần lượt thay nhau rã đám.

Và tới một lúc nọ, trong thinh không rộng lớn, chả còn thấy vang vọng tiếng hát xẩm cùng tiếng nhị tiếng phách nữa. Có một điều khiến cho các nghệ nhân hát xẩm và đông đảo những người yêu mến nó cảm thấy hoang mang khi cụ Hà Thị Cầu "người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20" -  linh hồn của nghệ thuật hát xẩm theo bước tổ nghề vân du về miền cực lạc vào năm 2013 thì, xẩm cũng sẽ chỉ còn là dĩ vãng, làm gì có tương lai cho loại hình nghệ thuật diễn xướng thuần Việt độc nhất vô nhị ấy nữa. Nhưng mà…

Ngay sau âm tiết "nhưng mà…"  bỗng dưng sắc mặt ông Phó trở nên tươi rói, đầy thần thái. Ông lão tỷ tê tâm sự, cái sự lo lắng ấy của những người yêu xẩm chỉ diễn ra trong chốc lát mà thôi. Vì rằng, do không muốn thứ di sản văn hóa phi vật thể mà tổ nghề, cùng biết bao các thế hệ tiền nhân và người mẹ của mình nhọc nhằn gây dựng, để lại cho hậu thế, cuối cùng thành công dã tràng, năm 2018, bà Nguyễn Thị Mận, con gái cụ Hà Thị Cầu đã mạnh dạn thành lập câu lạc bộ chiếu xẩm mang tên người mẹ đẻ của mình.

Sà vào chiếu xẩm chợ Lồng -0
Nghệ sĩ  Bùi Công Sơn (người chơi đàn nguyệt) và các học trò nhỏ tại chiếu xẩm chợ Lồng.

Rồi thì một ngày nọ, chiếu Câu lạc bộ Xẩm chợ Lồng thuộc xã Yên Phong, nơi quê chồng của nghệ nhân ưu tú Hà Thị Cầu ra đời. Chị Lê Thị Chiến, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Xẩm chợ Lồng chia sẻ, các thành viên tham gia Câu lạc bộ Xẩm chợ Lồng bằng tình yêu dành cho môn nghệ thuật truyền thống. Và ai nấy đều có chung một nguyện ước: lan tỏa được tình yêu xẩm đến cộng đồng.

Vẫn trong trạng thái xúc động đầy thiêng liêng ấy, chị Chiến cho hay, đã từng rất nhiều lần, bằng nghệ thuật hát xẩm, Câu lạc bộ Xẩm chợ Lồng tự nguyện tổ chức những cuộc biểu diễn để quyên góp vật chất, tiền bạc cho các hoạt động thiện nguyện đầy ý nghĩa không chỉ dừng lại ở phạm vi địa phương cấp huyện, tỉnh. Vậy đấy, bằng tính chân - thiện - mỹ truyền thống, nghệ thuật hát xẩm đã khẳng định phần nào tính cộng đồng, và giá trị xã hội thời công nghiệp 4.0.

"Xin được tự hào khoe với anh thế này, bây giờ ở huyện Yên Mô, cái nôi của hát xẩm, ngoài Chiếu xẩm chợ Lồng cánh tôi ra, còn có rất nhiều các câu lạc bộ khác cùng hoạt động với mục đích bảo tồn, phát triển nghệ thuật hát xẩm đấy nhé!" - Thần thái rạng rỡ, chị Mận bỗng dưng chủ động hạ giọng thì thầm, vẻ đầy thiêng liêng - "Này, anh biết không, Chiếu xẩm chợ Lồng không chỉ có các thành viên là người xã Yên Phong góp mặt đâu. Câu lạc bộ chúng tôi còn sự tham gia của những người rất trẻ từ tỉnh bạn lặn lội tới tham gia nữa đấy!".

Một trong những người trẻ vốn dĩ trước đó rất xa lạ với chị Mận và các thành viên của Chiếu xẩm chợ Lồng chính là nghệ sĩ Bùi Công Sơn. Lâu nay người trong cõi dân gian quen gọi anh chàng đó bằng cái tên trìu mến thân thương: Sơn "xẩm". Thiên hạ gọi chàng nghệ sĩ tuổi đời chưa đến 30, nhưng đã có hơn chục năm trời "ăn cùng xẩm, ngủ cùng xẩm" ấy như vậy là vì nhẽ, tại khác khu chợ miền Bắc, hình ảnh Bùi Công Sơn trải chiếu hát xẩm đã trở nên vô cùng thân quen.

Cho rằng mình "có căn duyên với xẩm" từ lúc còn đang mài đũng quần trên ghế trường làng, Bùi Công Sơn kể: tình cờ một bữa nọ bắt gặp trên màn hình tivi hình ảnh nghệ nhân Hà Thị Cầu đang độc diễn, ngay lập tức anh bị xẩm quyến rũ. Thoạt đầu là xem và nghe người nghệ sĩ ấy biểu diễn. Rồi thì sau đó Sơn mày mò tìm hiểu về nghệ thuật hát xẩm. Và học theo. Nhưng mà "không thày đố mày làm nên", Sơn chủ động tìm đến những người chuyên kéo nhị gần nhà để học các ngón đàn.  Không chỉ thế, Sơn lân la làm quen với các nghệ nhân hát xẩm để xin được làm học trò của họ.

Quần áo nâu sồng, vóc vạc thư sinh với nước da trắng trẻo cùng gương mặt thông minh, tuấn tú và tóc dài mượt đen búi củ hành sau gáy, Bùi Công Sơn tủm tỉm nửa đùa nửa thật rằng, mình là cái anh chàng cổ mốc, rêu phong. Từ dáng hình cho tới lời ăn tiếng nói của Sơn đều mặc định điều này: cái tâm hồn xẩm đã ngấm sâu vào máu thịt của anh thật rồi.

Nghe nói, chả ai bảo ai, hầu hết các nghệ sĩ xẩm có "thương hiệu" đều thừa nhận với nhau một sự thật: nghe Sơn hát người ta thấy thoảng đâu đó cái hồn xẩm của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu đã được trao truyền ấn định trong anh. Trong nhân gian ai đó đã cho rằng, Sơn "xẩm" chính là truyền nhân của cố nghệ sĩ Hà Thị Cầu, hẳn là rất xác đáng?! Và, người ta đã không hề ngoa ngôn tý tẹo nào khi gọi anh: "Người xẩm"!

Sà vào chiếu xẩm chợ Lồng -0
Những nghệ sĩ hát xẩm tương lai của chiếu xẩm chợ Lồng.

Một lúc nọ, bỗng ghìm một cái thở nặng, Sơn "xẩm" kể: cái số mình đã thật đen đủi khi chuẩn bị "khăn gói quả mướp" rời đất Thái Bình "đánh đường" sang huyện Yên Mô để xin được tầm sư học đạo với cụ Hà Thị Cầu thì bất ngờ nhận được tin nghệ nhân ưu tú trứ danh ấy qua đời. Sự kiện đó khiến cho Sơn cảm thấy hụt hẫng và vô cùng hoang mang. Nhưng cơ may vẫn chưa đóng kín cửa với Sơn. Bởi vẫn còn đâu đó vài ba nghệ nhân vốn là học trò của cụ Hà Thị Cầu để "trao duyên" xẩm cho Sơn.

Sơn chia sẻ, với nghệ thuật hát xẩm, bảo tồn chưa đủ mà phải tính tới chuyện phát triển thì loại hình diễn xướng dân gian truyền thống ấy mới có cơ hội tồn tại một các căn cơ, bền vững được. Với khát vọng nhân văn ấy, Sơn đã giơ tay để chạm vào ước mơ bằng việc mở chiếu quy tụ các em thiếu nhi có cùng đam mê tại khu chợ Lồng.

Một trong những điều "chẳng giống ai" tại chiếu xẩm chợ Lồng của Sơn là cái cách sáng tạo xẩm hợp thời cuộc. Sơn trải lòng, với xẩm cổ chỉ dành cho những người đam mê, hiểu về xẩm. Còn muốn phổ cập phải dùng ngôn ngữ hiện đại, dễ hiểu đi vào tâm thức người nghe. Đấy chính là một phương thức phát triển nghệ thuật hát xẩm truyền thống một cách căn cơ, bài bản.

 *

Buông cái thở dài nhẹ nhõm, ông Vũ Xuân Năng, một trong những "của hiếm" trong giới nhạc công vừa có thể đánh trống và gõ xênh. Và cũng là người đã từng gắn bó với nghệ nhân Hà Thị Cầu quãng thời gian dài mấy chục năm bỗng tỏ ra áy náy: "Hóa ra cánh già chúng tôi đã lo xa bằng thừa anh ạ. Cứ ngỡ rằng, sau khi cụ Hà Thị Cầu khuất núi theo tiên tổ thì cái nôi xẩm Yên Mô sẽ rã đám, chả ai thèm đoái hoài gì tới món nghệ thuật độc đáo ấy nữa. Nhưng không phải thế!'.

Run run kéo vạt áo chấm vào hai khóe mắt chăng đầy những vết chân chim ngang dọc, ông Năng nghèn nghẹn tiếp lời: "Đúng là "tre già măng mọc!". Các lớp hậu duệ của nôi xẩm Yên Mô chúng tôi đã biết bảo nhau nhất tâm giữ cho bằng được nghệ thuật hát xẩm truyền thống. Lại còn có những người rất trẻ như anh Bùi Công Sơn cùng xúm vào chung lòng không những chỉ đơn thuần bảo tồn xẩm mà còn tìm cách phát triển nó lên cho hợp với thời cuộc mà sống mãi. Chả còn lo xẩm bị một mai mai một nữa thật rồi. Mà xẩm còn thì chả lo văn hóa làng bị băng hoại, mất gốc dù có "ra biển lớn" gì đi chăng nữa, phải không anh nhỉ?!".

Lê Công Vũ

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.