Rừng xanh yêu thương

Khi đi vào các tác phẩm thi ca, rừng có nhiều biểu hiện phong phú, sống động, gửi gắm nhiều cung bậc tình cảm của con người cũng như không ít những suy tư, trăn trở, khát vọng, mơ ước. Trước tiên phải kể đến việc rừng được miêu tả như là một vẻ đẹp tự nhiên, gắn với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cối lá hoa của con người.

1.Trong tiếng Việt, ngoài định danh thông dụng nhất là "rừng", người Việt còn có các đơn vị tương đương khác cũng mang ý nghĩa chỉ rừng như: "rú", "lâm", "ngàn". Chữ "rú" khi sử dụng độc lập được coi là mang ý nghĩa chỉ rừng già gắn liền với núi. "Rú" cũng kết hợp với "rừng" tạo thành một tổ hợp từ ghép đẳng lập, mang ý nghĩa chỉ rừng nói chung: "rừng rú". Từ "rừng rú" từng đi vào thơ của Bùi Giáng: "Hôm nay tôi kiếm củi trong rừng/ Lạc mất đường về chơi bỗng dưng/ Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm/ Là quê thân thiết biết bao chừng" (Người về). 

Chữ "lâm" là một đơn vị vay mượn từ tiếng Hán, được viết trong tiếng Hán với tự dạng hai chữ "mộc" (cây) đứng cạnh nhau, với ngụ ý "nhiều cây thành rừng". Đi vào tiếng Việt, "lâm" tham gia cấu tạo nên một số đơn vị từ vựng phổ biến như: "lâm tặc", "lâm nghiệp", "lâm sản", "lâm học", "lâm phần" (khoảnh rừng thuần nhất về cấu trúc, khác biệt với khoảnh rừng bên cạnh). 

Đơn vị cuối cùng chỉ rừng là "ngàn", đi vào khá nhiều câu thành ngữ tục ngữ ca dao của người Việt như: "Vượt suối băng ngàn", "Đốn tre đẵn gỗ trên ngàn"… 

Một góc rừng già.
Một góc rừng già.

Nhạc sĩ Hoàng Việt có bài hát nổi tiếng mang tựa đề "Lên ngàn": "Em đi cắt lúa trên ngàn, rẫy trên ngàn nắng chiều chang chang/ Đường đi nước ngập mênh mang/ bàn chân giẫm gai lòng không thở than…". Dĩ nhiên chữ "rừng" vẫn là chữ thông dụng hơn cả và cũng xuất hiện trong nhiều câu thành ngữ tục ngữ, thể hiện những quan điểm cách nhìn của cộng đồng về miền không gian khá đặc biệt này. 

Có lẽ không ít người Việt giữ một tâm lý khá e sợ với rừng, bởi nơi đây có thể chứa đựng nhiều hiểm nguy, không phải là chỗ có thể tin tưởng về mức độ an toàn cho sức khỏe và tính mạng con người. Vậy nên mới có câu "rừng thiêng nước độc". Việc lạm dụng tài nguyên của rừng, tham lam vô độ trong việc chiếm đoạt các sản vật từ rừng, được cảnh báo qua một câu tục ngữ khác: "Ăn của rừng rưng rưng nước mắt". 

Rừng cũng được sử dụng như một ẩn dụ để nói về thành quả của sự tích lũy qua câu tục ngữ: "Góp gió thành bão, góp cây thành rừng". Một tổ hợp khá thú vị nữa về rừng trong tiếng Việt là "luật rừng", được hiểu là luật mạnh được yếu thua, theo kiểu đấu tranh sinh tồn trong thế giới loài vật, thường được dùng để diễn tả những thanh toán, tranh chấp, đấu đá của giới giang hồ với nhau.

2. Khi đi vào các tác phẩm thi ca, rừng có nhiều biểu hiện phong phú, sống động, gửi gắm nhiều cung bậc tình cảm của con người cũng như không ít những suy tư, trăn trở, khát vọng, mơ ước. Trước tiên phải kể đến việc rừng được miêu tả như là một vẻ đẹp tự nhiên, gắn với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cối lá hoa của con người. 

Nhiều ca khúc từ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ cho tới sau 1975 đều mang đến cho người nghe vẻ đẹp của rừng qua những lời ca trong sáng, tha thiết: "Rừng hát, gió lay trên cành biếc/ Lao xao, rì rào, dòng suối uốn quanh, làn nước trôi trong xanh" (Nhạc rừng - Nhạc và lời: Hoàng Việt), "Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về/ Vui trong nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa" (Tình ca Tây Bắc, Nhạc: Bùi Đức Hạnh, phỏng thơ: Cẩm Giang), "Em đến với rừng, đâu chỉ vì rừng xanh thơm hương/ Em đến với rừng, vì tình yêu màu xanh quê hương/ Em đến với rừng, đâu chỉ vì rừng mờ trong sương/ Em đến với rừng, bởi rừng xanh yêu thương" (Rừng xanh yêu thương, Nhạc và lời: Huy Cường).

Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ở thế kỷ XX, rừng có thể nói như một người bạn đồng hành cùng những bước chân hành quân của người chiến sĩ: "Em đi lên rừng cây xanh mở lối/ Em đi lên núi núi ngả cúi đầu" (Cô gái mở đường, Nhạc và lời: Xuân Giao), "Đàn theo ta đi qua con suối con khe, qua nương rẫy qua bao nhiêu rừng/ Đàn theo ta đi đánh Mỹ đêm ngày, giữa rừng xanh vang muôn câu ca" (Rừng xanh vang tiếng Ta lư - Nhạc và lời: Phương Nam).Rừng không chỉ đồng hành mà thậm chí còn là một sức mạnh bảo vệ và chiến đấu chống lại kẻ thù: "Nhớ khi giặc đến giặc lùng/ Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây/ Núi giăng thành lũy sắt dày/ Rừng che bộ đội rừng vây quân thù" (Việt Bắc - Tố Hữu).

Có những khu rừng với những cái tên cụ thể đã đi vào nhiều tác phẩm thơ và nhạc theo suốt chiều dài lịch sử. Ở thời kỳ văn học trung đại, ta có một khu rừng Côn Sơn trong thơ Nguyễn Trãi: "Côn Sơn suối chảy rì rầm/ Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai/ Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm/ Trong ghềnh thông mọc như nêm/ Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm/ Trong rừng có bóng trúc râm/ Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn" (bản dịch của Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình). 

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ta bắt gặp rừng Việt Bắc trong thơ Hồ Chí Minh: "Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay/ Vượn hót chim kêu suốt cả ngày/ Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay". 

Trong quần thể rừng Việt Bắc còn phải nhắc tới rừng Pác Bó trong ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: "Ơ, rừng Pác Bó quê ta nhớ rừng xưa ôm bóng Người/ Bước chân Người đi đất chuyển dời theo Người/ Người về rừng núi, bóng Người vì sao trong sáng" (Tiếng hát giữa rừng Pác Bó). 

Ở dải đất phương Nam, phải kể tới những cái tên rừng đã đi vào các tác phẩm văn xuôi nổi tiếng của Sơn Nam, người được mệnh danh là nhà Nam Bộ học: "Hương rừng Cà Mau", "Bắt sấu rừng U Minh Hạ"… 

Sau 1975, rừng Cúc Phương đi vào một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Chung, được coi như một tác phẩm tỉnh ca của Ninh Bình: "Ơi, Cúc Phương ơi! Chiều nay tôi đến thăm em. Bâng khuâng giữa Động Người Xưa, vui với cây Chò ngàn năm. Cho tôi ngủ lại, cùng cỏ cây hoa lá. Rì rào qua mùa trăng, tưởng nghe con sóng mênh mông ngàn xưa vỗ về" (Nhớ về Cúc Phương).

3.Rừng cũng trở thành những hình tượng văn học mang chiều sâu, biểu đạt những xúc cảm tình yêu, gửi gắm những thông điệp về nhân sinh, về cuộc đời. Bài thơ "Tự hát" của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã nhắc tới rừng trong hai câu thơ liên tiếp, thể hiện những ngổn ngang rối bời của tâm trạng, và cả những rợn ngợp âu lo, vừa mê đắm nhưng cũng vừa xen lẫn không ít những dự cảm khó nói hết thành lời: "Mùa thu này sao bão giông nhiều/ Những cửa sổ con tàu chẳng đóng/ Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm/ Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh". 

Nếu như cánh rừng trong thơ Xuân Quỳnh gắn với những ẩn dụ về cảm xúc của tình yêu đôi lứa thì cánh rừng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo lại như muốn ẩn ý về những giá trị cuộc đời, là những gì đọng lại dù tháng năm đi qua, dù thời gian tàn phá và băng hoại: "Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi/ Có con người sống mà như qua đời" (Đồng dao cho người lớn).

Đọc lại nhiều tác phẩm của các danh gia trong dòng chảy thi ca Việt, tôi nhận thấy có một biểu hiện tâm lý - tình cảm tương đồng ở nhiều người, đó là khát vọng muốn trở về với núi rừng để sống một cuộc đời an nhiên tự tại, rũ bỏ hết mọi danh lợi vinh hoa. Nguyễn Trãi (1380 - 1442) từ thế kỷ XV đã thể hiện tâm sự ấy: "Đã hẹn suối rừng đâu nỡ phụ/ Cúi đầu cát bụi chỉ thương ta/ Chưa yên giặc giã mừng thân vẹn/ Về đến làng quê tưởng mộng qua/ Dưới núi bao giờ lều sẽ dựng/ Đá kê đầu ngủ, suối pha trà" (Sau loạn về Côn Sơn cảm tác). 

Sau Nguyễn Trãi ba thế kỷ, Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803), cũng mong ước: "Hà thời vũ khố cao cung thỉ/ Hạc cốt sương đề phản cố lâm" (Bao giờ kho vũ, cung tên xếp/ Vóc hạc quay về với núi xưa, Nguyệt dạ ngâm). Và sau Ngô Thì Nhậm hai thế kỷ nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã hẹn ước: "Non xanh nước biếc tha hồ dạo/ Rượu ngọt chè tươi mặc sức say/ Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này" (Cảnh rừng Việt Bắc, 1947).

Rừng là một thực thể thiên nhiên hoang dã và đầy bí ẩn nhưng cũng luôn tràn ngập những năng lượng và sự chào đón, mãi mãi quyến rũ con người. Không chỉ những bậc thi nhân, danh gia hay những tâm hồn tao nhân mặc khách tìm đến rừng, mà rừng còn cuốn hút cả những người trẻ tuổi thời nay trong những chuyến phượt tự do, vừa mạo hiểm vừa tràn đầy phóng khoáng. 

"Vì đi vào rừng người ta dễ yêu nhau" của Nguyễn Thùy Anh là một tản văn hấp dẫn nhất tôi được đọc trong những năm gần đây. Rừng không chỉ mang đến tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương xứ sở mà nó còn có khả năng đánh thức những cảm giác hoang sơ, thiện lương trong mỗi tâm hồn. Và có những tình yêu đôi lứa đã được khởi lên từ đó: "Bất giác, tôi nếm được vị ngọt của rừng. Một tâm hồn đơn sơ và hoang dại. Một con người mưu cầu những hạnh phúc bình dị và giản đơn (…) Thi thoảng trong giấc mơ, những dãy núi bạt ngàn xanh thẳm, những chiếc lưng còng đang gò mình địu ngô của người dân tộc; những con bò con dê lững thững đi trên triền núi như những nhà hiền triết hiện lên trong giấc mơ của tôi. Chẳng biết tự bao giờ, tôi đã bị núi rừng "bỏ bùa mê" mất rồi. Chồng tôi có lẽ cũng như vậy. Còn bạn, bạn đã sẵn sàng đi rừng chưa?".

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...