Rồng luận

1. Trong mười hai con vật của hệ can chi, rồng là con vật duy nhất không có trong đời thực mà được hình thành bởi trí tưởng tượng của con người. Ngoài tên gọi phổ biến là rồng, còn có cách gọi theo âm Hán Việt là ''long'' và cách gọi theo bảng can chi là Thìn.

Có tất cả năm loại Thìn theo cách gọi của bảng can chi. Đó là Giáp Thìn, Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm Thìn. Từ nguyên mẫu rồng, đời sống sinh hoạt và ngôn ngữ người Việt còn phái sinh ra những tên gọi khác như: giao long, thuồng luồng, đều là những con vật nằm trong trí tưởng tượng.

rong (cat).jpg -0
Rồng thời Nguyễn ở Tử cấm thành, Huế.

Quan sát từ hình dáng bên ngoài, có thể thấy con rồng là kết quả tổng hợp các đặc điểm của hai loài vật là con cá sấu và con rắn. Rồng giống con cá sấu ở các bộ phận đặc thù như đầu, vẩy, chân và giống con rắn ở đặc điểm thân dài. Rồng sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trên trời. Có thể bay được lên trời mà không cần phải có cánh. Miệng của rồng vừa có thể phun nước lại vừa có thể phun lửa.

Tuy thế, tâm thức của người Việt thường gắn con rồng với việc phun nước làm mưa là chính. Điều này thể hiện qua hai truyện cổ tích tiêu biểu là “Sự tích hồ Ba Bể” và “Sự tích đầm Mực”. Trong truyện “Sự tích hồ Ba Bể”, người dân của xã Nam Mẫu đã bị Trời Phật trừng phạt, làm cho ngập lụt cả làng. Từ trong khung cảnh hoang tàn ngập lụt hiện ra một con giao long to lớn từ mặt nước nhô lên bay vòng quanh xã Nam Mẫu.

Trong truyện “Sự tích đầm Mực”, hai anh em con vua Thủy tề vì hết lòng muốn cứu người dân vùng Thanh Đàm khỏi nạn hạn hán nên đã làm trái ý trời, lấy nghiên mực để làm mưa. Hai anh em sau đó đã bị Trời xử phạt, phải chịu tội chết, xác hiện nguyên hình là hai con thuồng luồng đầu một nơi thân một nẻo, dạt vào gậm cầu. Cụ đồ dạy học, người đề nghị hai anh em làm mưa cứu dân vô cùng thương xót, đã tổ chức đưa đám và chôn cất tử tế cho hai con thuồng luồng.

2. Nhắc đến rồng là nhắc đến con vật có phong cách uy nghiêm dữ dội bậc nhất trong tất cả các con vật của bảng can chi. Rồng vì thế tượng trưng cho sức mạnh và sự thống trị nên hay được gắn với nhà vua. Trong hệ thống từ vựng Hán Việt đã hình thành cả một lớp từ để chỉ các đồ đạc, vật dụng mà nhà vua sử dụng hàng ngày hoặc những gì thuộc về vua đều có chữ “long” tham dự: long bào, long sàng, long xa, long giá, long nhan, thuyền rồng… Vị thần làm mưa thì được gọi là long vương.

Chữ long cũng mang ý nghĩa gắn với những điều tốt lành, hạnh phúc, phát triển. Đấy là cơ sở để hình thành nên một loạt các từ ngữ như: long mạch, long môn, long phụng, long vận, long vân. Trong phong thủy xây dựng nhà cửa hoặc đền chùa miếu mạo, người ta thường trang trí, chạm khắc rồng hổ và có các câu thành ngữ quen thuộc: Tả thanh long hữu bạch hổ, lưỡng long chầu nguyệt, lưỡng long tranh châu. Nhiều địa danh nổi tiếng của Việt Nam được đặt tên với chữ Long (Rồng): Hàm Rồng, Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Bạch Long Vĩ, Long Đỗ, Long Điền…

Rồng cũng có khi được ví với những nhân vật có khả năng phi phàm, đặc biệt, chẳng hạn như trong câu chuyện của Khổng Tử nói với môn đệ về Lão Tử: “Loài chim ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông là con rồng chăng?”.

Người Việt Nam tự hào là con rồng cháu tiên, gắn với câu chuyện truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ. Con rồng cũng đã đi vào nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt với các ý nghĩa biểu tượng khác nhau, trong đó đa số gắn với những điều tốt đẹp: Rồng bay phượng múa, Rồng đến nhà tôm, Một ngày tựa mạn thuyền rồng/ Còn hơn chín kiếp ngồi trong thuyền chài, Trứng rồng lại nở ra rồng/ Liu điu lại nở ra dòng liu điu, Cá chép hóa rồng, Cá gặp nước rồng gặp mây, Có phúc trúc hóa long, Nước chảy lòng ròng như long cuốn thủy. Cũng có lúc rồng thất thế, bị rơi vào những hoàn cảnh khó khăn, không phù hợp và tương thích với vị trí cao quý đáng có: Rồng thất thế hóa thành rắn, Rồng vàng tắm nước ao tù.

3. Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, hình tượng con rồng có sự biến đổi qua các thời kỳ, in dấu phong cách hoặc tư tưởng của người cai trị. Rồng thời Lý có đường nét uốn khúc nhẹ nhàng, đơn giản trong tạo hình: thân dài, uốn khúc và mang vẩy. Sang đến thời Trần, rồng bắt đầu biến đổi nhiều hình vẻ, phát triển đa dạng, mỗi nơi lại có sự khác biệt nhất định. Thân rồng thời Trần mập mạp khỏe khoắn hơn, vòi ngắn lại, kiểu dáng sừng phong phú, bờm xuất hiện hai loại dải ngắn vòng xuống gáy, vẩy nhiều hơn, móng vuốt ngắn và to hơn.

Sang đến thời Lê sơ, vòi của rồng được thay thế bằng mũi của loài ăn thịt, mặt rồng trông dữ hơn, thêm lông mày cùng bộ râu quai nón rậm, thân hình to khỏe cứng cáp kết hợp với mây lửa, sức mạnh uy quyền đế vương được thể hiện qua hình ảnh con rồng 5 móng. Nhiều người cho rằng con rồng thời Lê sơ rất giống con rồng của nhà Minh nhưng thực ra con rồng thời Lê sơ có vẩy và đuôi mềm mại hơn, phần bờm thường xẻ ra hai bên, xuất hiện tư thế một chân trước cầm lấy râu rất đặc trưng.

Rồng thời Mạc có sừng hai chạc trên đầu, hai mắt lồi, mũi sư tử, mồm thú nhô phía trước và các chân rồng thường chạm bốn móng.

Trang 4 VN Tết - Rồng luận -0
Tượng rồng cắn thân, chân xé mình.

Sang đến thời kỳ Lê Trung Hưng, đây là thời kỳ nhiều biến động và cũng lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Với sự nở rộ của nhiều kiến trúc đình chùa, hình tượng con rồng cũng theo đó mà phát triển rất phong phú, trong đó nổi bật nhất là râu bờm, mây lửa đều duỗi thẳng sắc nhọn. Đầu rồng không còn bổ luống mà chia thành từng dải đều nhau, lông mày, râu cằm và lông khuỷu chân loe ra, hai sợi râu mép uốn cong lại. Đến thời Cảnh Hưng gần giữa thế kỷ 18 đã xuất hiện con rồng đuôi xoáy, thân rồng mảnh hơn và đường nét tạo hình này được cho là xuất hiện sớm nhất trên các sắc phong.

Cho đến triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam là triều Nguyễn, hình tượng con rồng về cơ bản kế thừa hình tượng rồng thời Lê Trung Hưng, phát triển thêm những con rồng thềm bậc, độ uốn khúc không còn đều đặn mà chỉ vồng lên hai khúc nhỏ dần về đuôi, trán rồng có phần lõm hơn và bợt ra sau, đuôi rồng duỗi ra với các dải lông thưa thớt, cũng có khi sắc nhọn tua tủa.

Trong tất cả các tạo hình con rồng thời phong kiến, có lẽ đặc biệt nhất là tượng con rồng đầu cắn thân chân xé mình, cao 79cm, chiều ngang 136cm, chiều dài 103cm, tổng trọng lượng 3 tấn, được tìm thấy năm 1991 khi nhân dân địa phương tiến hành tu sửa đền thờ thái sư Lê Văn Thịnh tại phía nam núi Thiên Thai, thôn Bảo Tháp, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Pho tượng thể hiện một trạng thái sống động, đau đớn, quằn quại, bi thương phẫn uất đến cùng cực. Nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật cho rằng tác giả bức tượng này muốn thể hiện nỗi đau đớn oan khuất của thái sư Lê Văn Thịnh khi bị vu oan là hóa hổ để giết vua.

Nhưng thông điệp của tác phẩm có lẽ còn lớn hơn như thế. Con rồng vốn là biểu tượng tối thượng cho đấng minh quân, rồng mà tự cắn vào thân thì làm sao có thể bay lên được nữa. Điều ấy cũng giống như làm vua mà không anh minh, mà để xảy ra các án oan khuất, nhất là đối với những kẻ sĩ tài năng và đức độ, thì đó chính là ngọn nguồn của bao đau khổ và hủy hoại chính mình.

Nhà thơ Nguyễn Thành Phong nhân sự kiện tìm thấy bức tượng con rồng đầu cắn thân, chân xé mình đã viết bài thơ “Dưới núi Thiên Thai” như sẻ chia một niềm đồng cảm với người xưa: “Ta về tìm Thái sư đây/ Thềm gia vi tự bay đầy khói sương/ Tiểu nhân lộng hí quan trường/ Chính nhân lặng lẽ quay đường tiêu dao/ Cơn làm sao cớ làm sao/ Gần ngàn năm lại hôm nào đấy thôi/ Thái sư nặng nợ bầy tôi/ Như ta đau đáu nỗi người thiên thu/ Thế gian cuộn lốc sa mù/ Bụi trần tật đố tung mờ mắt vua/ Đội danh mượn áo gớm chưa/ Cuối cùng cũng miếng ăn vừa họng thôi/ Thiên Thai nghèn nghẹn mây trôi/ Đá đau ngoạm xuống lại trồi đất lên…”.

Khác với phương Đông, rồng với nhiều đất nước phương Tây xuất hiện như một biểu tượng của cái ác và gần với quỷ dữ. Rồng thường gắn với nhiệm vụ là con vật canh giữ các kho báu được giấu kín, phải đánh bại rồng thì mới vào được kho. Trong khi đó, rồng đối với Việt Nam luôn là biểu tượng của sự cất cánh, bắt đầu từ giấc mơ của vua Lý Thái Tổ thấy một con rồng vàng bay lượn giữa bầu trời trong xanh nên đã chuyển kinh đô từ Hoa Lư về Đại La và đặt tên mới là Thăng Long. Con rồng trong cảm thức của đông đảo người Việt hôm nay và mai sau vì thế luôn gắn với những gì đẹp đẽ, phát triển và trường tồn.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.