Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhà thơ Chế Lan Viên

“Rét đầu mùa, nhớ người đi phía bể”

Chế Lan Viên (1920 - 2020) là một thi sĩ tài danh của văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp văn học của ông để lại đồ sộ, phong phú với những thi tập trải khắp các thời kỳ trước 1945, giai đoạn kháng chiến 1954 – 1975, giai đoạn sau 1975.

Nếu như trước Cách mạng, Chế Lan Viên nổi tiếng với chất kì dị qua tập “Điêu tàn”, thì ở giai đoạn sau, ông lại hết sức thành công với những bài thơ giàu suy tưởng, triết lý, thậm chí còn mang đậm chất chính luận, chẳng hạn các bài “Người đi tìm hình của nước”, “Tiếng hát con tàu”, “Sao chiến thắng”, “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”… 

Thế nhưng nhiều người ít để ý rằng, trong gia tài văn học của Chế Lan Viên còn có những bài thơ tình. Tuy số lượng thơ tình của Chế Lan Viên chỉ khoảng vài ba chục bài nhưng hầu hết đều rất ấn tượng, đặc sắc và cảm hứng chính để làm nên những thi phẩm ấy bao giờ cũng là nỗi nhớ.

Gia đình nhỏ của cố nhà thơ Chế Lan Viên.
Gia đình nhỏ của cố nhà thơ Chế Lan Viên.

Bài thơ tình nổi tiếng đầu tiên, được mọi người biết đến rộng rãi của Chế Lan Viên, theo tôi chính là Tình ca ban mai”, in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960). Bài thơ được viết theo thể năm chữ gồm 17 câu, cứ hai câu đi với nhau thành một khổ, riêng câu cuối cùng đứng một mình như khúc vĩ thanh ngân nga, đầy tin yêu hy vọng. 

Tác phẩm mở đầu bằng sự cách xa người yêu, nỗi buồn nhớ của thi sĩ là điều không thể tránh khỏi, những sự sống quanh chàng dường như cũng rời bỏ, hao hụt đi nhiều: “Em đi như chiều đi/ Gọi chim vườn bay hết”. Nhưng rất nhanh sau đó, ngay ở hai câu kế tiếp là sự trở về của người con gái, cũng là sự hồi sinh trong tâm hồn thi sĩ và thiên nhiên xung quanh: “Em về tựa mai về/ Rừng non xanh lộc biếc”. 

Cứ thế, những câu thơ kế tiếp là bao tụng ca đẹp đẽ về tình yêu, về niềm tin hạnh phúc của đôi lứa son sắt thủy chung: “Tình ta như lộc biếc/ Gọi ban mai lại về/ Dù nắng trưa không ở/ Ta vẫn còn sao khuya”. Câu cuối cùng khép lại tác phẩm như muốn nói rằng, cho dù có những xa cách thì người con gái vẫn luôn trở về trong tình yêu đẹp đẽ: “Mai, hoa em lại về”…

Chính thập niên 60 (từ 1961 đến 1967) là khoảng thời gian Chế Lan Viên viết nhiều bài thơ tình nhất, và các bài thơ tình của ông có xu hướng ngày càng ngắn gọn, cô đọng hơn. Sau “Tình ca ban mai”, bài “Trời đã lạnh rồi” viết năm 1962 cũng là một thi phẩm khởi lên từ nỗi nhớ: “Đổi gió mùa thu trời lạnh chăng em/ Màu xanh khuất mà mây cũng vắng/ Hiu hắt lòng ta như thiếu nắng/ Như căn nhà những tháng không em”… 

Nỗi cách xa của lứa đôi đã gọi nên một thi ảnh đơn sơ mà xúc động ở khổ thứ ba của bài thơ, cũng nằm trong câu thơ cuối cùng khép lại thi phẩm: “Mùa thu chừng biết ta xa cách/ Gió nửa đêm từng lúc gọi ta hoài/ Nhắc anh biết miền xa em không ngủ/ Nhớ những ngày chăn mỏng đắp chung đôi”. Cái “chăn mỏng đắp chung đôi” ấy có thể gợi lên trong ta một cảm xúc về chặng đường dài của đời sống vợ chồng, gắn bó với nhau từ thuở hàn vi, cho đến những tháng năm về sau, khi cuộc sống mỗi ngày có thể tốt hơn, thì lúc xa cách nhau, nhớ nhiều nhất chính là nỗi nhớ về những năm tháng còn khó khăn cơ cực.

Bài thơ “Trời đã lạnh rồi” so với “Tình ca ban mai” đã giảm đi về số lượng câu thơ (từ 17 câu nay chỉ còn 12 câu). Trong 5 bài thơ tình tiếp theo của thời kỳ 1961-1967, mỗi bài thơ tình chỉ còn đúng 4 câu. Và tất cả được hiện hình kỳ ảo lung linh qua nỗi nhớ. 

Bài thơ “Chùm nhỏ thơ yêu” (nhiều tuyển tập đặt tên là “Hai bài tứ tuyệt”) gồm 2 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu, nhưng thực chất ta có thể xem mỗi khổ là một thi phẩm có tính độc lập tương đối, đồng thời giữa hai khổ vẫn có sự liên kết, hòa quyện: “Anh xa cách em như đất liền xa cách bể/ Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em/ Em thân thuộc sao thành xa lạ thế/ Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm/ Anh không ngủ phải vì em đang nhớ/ Một trời sao rực cháy giữa đôi ta/ Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió/ Cho sao trời yên rụng một đêm hoa”. 

Yêu thương cồn cào cháy bỏng khi cách xa là vậy, nên khi được biết chỉ còn một ngày nữa thôi em sẽ trở về, lòng chàng thi sĩ bỗng rộn ràng như những nhịp bước chân hối hả đón chờ. Một bài thơ vắt dòng độc đáo đã ra đời, tượng hình sự hồi hộp như đến qua từng nhịp thở: “Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ/ trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây/ cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm/ cũng thêm màu trên cánh đang bay” (Tập qua hàng). 

Nỗi cách xa, chờ đợi với người mình yêu thương đã làm nên những câu thơ, hình ảnh thơ độc đáo của Chế Lan Viên. Trong ca dao đã có câu thơ ví người con trai là thuyền, còn người con gái là bến chung thủy đợi chờ; nay trong thơ Chế Lan Viên ta thấy sự hoán vị ngược lại: “Buổi sáng em xa chi/ Cho chiều, mùa thu đến/ Để lòng anh hóa bến/ Nghe thuyền em ra đi” (Lòng anh làm bến thu). 

Hình ảnh chăn mỏng từng xuất hiện trong bài “Trời đã lạnh rồi”, nay lại trở về trong một bài tứ tuyệt khác đầy thương yêu sâu nặng: “Cái rét đầu mùa anh rét xa em/ Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa/ Một đắp cho em ở vùng sóng bể/ Một đắp cho mình ở phía không em” (Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể).

Hình bóng người con gái trong những bài thơ tình của Chế Lan Viên, theo tôi thực ra đều chỉ hướng về một người duy nhất. Đó là nhà văn Vũ Thị Thường, người vợ của nhà thơ. Trong những năm của thập niên 60, nhà văn Vũ Thị Thường làm báo ở Kiến An, Hải Phòng, đôi khi còn phải đi công tác các tỉnh. Chế Lan Viên thì sống ở Hà Nội nên hai vợ chồng thường xuyên phải xa nhau. Nỗi nhớ người vợ hiền thục, tảo tần vì thế luôn trở thành một niềm xúc động khôn nguôi trong trái tim thi sĩ. 

Địa danh Kiến An đã đi vào thơ Chế Lan Viên như một miền ngóng trông mong đợi: “Ôi con tàu… con tàu…/ Tiễn em đi buổi ấy/ Sân ga trơ mình anh/ Khuất khói xa còn vẫy/ Nửa đêm viết thư dài/ Xé đi rồi viết lại/ Hồng nhạn là trang giấy/ Kiến An mà xa xôi/ Mùi hương tỉnh nhỏ ấy/ Em đã mang đi rồi/ Lụa hồng em để lại/ Không che màu tường vôi” (Hương tỉnh nhỏ).

Trong một lần vợ đi công tác, một cái tên huyện nhỏ khác lại trào ra qua những câu thơ năm chữ như cố kìm nén nỗi nhớ thương: “Em đi về Kiến Xương/ Mùa này mưa bão lắm/ Phòng anh mờ hơi sương/ Nhớ em như nhớ nắng/ Chiều nay ốm một mình/ Vắng em ngồi bên cạnh/ Ngọn gió lùa trêu anh/ Cửa khép rồi vẫn đánh” (Nhớ em nơi huyện nhỏ).

Một thời gian sau, nhà văn Vũ Thị Thường được chuyển công tác về Hà Nội, bà lần lượt công tác ở Báo Văn học, Báo Văn nghệ rồi Tạp chí Tác phẩm mới. Hai vợ chồng được đoàn tụ, không còn phải cách xa. Những bài thơ tình với nỗi nhớ thương vì thế cũng ít dần. Cho đến thập niên 80 của thế kỷ trước, tôi mới lại bắt gặp một bài thơ tình của Chế Lan Viên mang tên “Nắng quái”. 

Lúc này thi sĩ cũng đã luống tuổi, người tự ví mình như ánh nắng quái trong buổi chiều sắp tàn. Ánh nắng ấy tuy rằng ít lâu sau đây có thể sẽ giã từ bầu trời và mặt đất, nhưng trong những giây phút cuối cùng vẫn muốn bùng lên dữ dội:“Tre sẫm màu hoàng hôn/ Bỗng rạng ngời nắng quái/ Như tình yêu trong hồn/ Rực một màu điên dại/ Tối rồi còn yêu hơn/ Rặng nhãn bên kia sông/ Rặng tre gần chân núi/ Lui dần vào trong tối/ Mà ở đây đang còn/ Chút nắng thừa chống chọi/ Hỏi còn gì điên hơn/ Chút nắng thừa vụt tắt/ Kìa trời đêm đầy sao/ Cái tình yêu bất lực/ Giờ cháy ở sao nào?”. 

Kể từ sau tập “Điêu tàn”, đã lâu lắm tôi mới bắt gặp chữ “điên/điên dại” trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện tới hai lần trong một bài thơ ngắn. Thi sĩ rút cục cũng phải thú nhận về sự bất lực trước thời gian, sự bào mòn của sức lực và tuổi tác. Nhưng dù thế nào đi nữa, con người vẫn sẽ sống và yêu hết mình, cháy hết mình trong từng khoảnh khắc mà thời gian trôi qua. Tấm lòng ấy, người thi sĩ muốn gửi cả vào bao la trời đất:“Cái tình yêu bất lực/ Giờ cháy ở sao nào?”.

Chế Lan Viên đã đi xa hơn 30 năm, nhưng những bài thơ của ông mãi còn ở lại, những câu thơ tình của ông mãi còn xanh tươi trong cảm xúc của bao người đọc, bao đôi lứa ngày hôm nay. Một trong những bài thơ cuối cùng Chế Lan Viên viết trên giường bệnh cũng nhắc đến tình yêu. 

Thi sĩ bày tỏ niềm đắm say và nuối tiếc với trần gian, nhưng ông cũng đầy tin tưởng về những điều còn đọng lại mãi mãi như tấm lòng của ông dành cho cuộc đời, cho con người: “Anh không ở lại yêu hoa mãi được/ Thiêu xong, anh về trời khác cũng đầy hoa/ Chỉ tiếc không có tình yêu ở đó (…) Cho dù trái đất không còn anh/ Anh vẫn còn nguyên trái đất/ Tặng cho mình/ Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ/ Trong hạt sương, trong đá…/ Trong những gì không phải là anh/ Anh tồn tại mãi/ Không bằng tuổi tên mà như tro bụi/ Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên” (Từ thế chi ca).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.