“Quả trăng cũng chín” trong thơ Lê Hồng Thiện

Trước hết tôi cảm nhận thơ thiếu nhi của nhà thơ Lê Hồng Thiện "trong veo tiếng Việt" (là tựa vào "tứ" của bài thơ "Trong veo bầu trời"). Thuần Việt là một đặc điểm của ngôn ngữ thơ trong thơ Lê Hồng Thiện. Tôi nghĩ đó là một sức mạnh của thơ ca. 

Đã hơn một lần tôi thẳng thắn thừa nhận mình không sành về thơ, chỉ chuyên chú về văn xuôi (nói đúng ra cũng đã có đôi lần cầm bút viết phê bình thơ, nhưng là "đành lòng vậy” cầm lòng vậy". Nhưng cái cơ duyên khiến tôi đọc 176 bài thơ của nhà thơ Lê Hồng Thiện (gồm 102 bài trong "Thơ Lê Hồng Thiện - Tác phẩm và dư luận"- NXB Hội nhà văn, thêm 74 bài trong "Cả nhà cùng vui", tập thơ thiếu nhi xuất bản gần nhất của ông) đã khiến tôi có đôi chút thay đổi trong tác nghiệp phê bình văn chương.

Nghĩa là cần mạnh dạn khai mở vào thế giới thơ, nghĩa là cần tiếp cận thơ của những tác giả ở xa Trung ương, sống giữa nhân quần và thiên nhiên. Nói theo cách của ngành Giáo dục, đó là những "nhà thơ cắm bản". Ở đây, tôi dành cảm tình tới nhà thơ Lê Hồng Thiện đang sống giữa bao la trời đất và trù phú cây cối của vùng quê Hưng Yên, của vùng "Nhất Kinh kỳ, nhì Phố Hiến".

Nhà thơ Lê Hồng Thiện và vợ.
Nhà thơ Lê Hồng Thiện và vợ.

Nhưng cái khó đến với tôi khi viết về thơ thiếu nhi của nhà thơ Lê Hồng Thiện chính là ở chỗ đã có nhiều lời bình giá (gần 150 trang trong sách "Thơ Lê Hồng Thiện - Tác phẩm và dư luận"). Liệu mình có góp thêm vào được điều gì mới mẻ trong tổng thể các ý kiến đánh giá thành tựu thơ của một nhà thơ, nếu có thể nói, suốt đời cống hiến cho trẻ thơ (ông đã công bố 11 tập thơ chuyên viết cho tuổi thơ)?

Trước hết tôi cảm nhận thơ thiếu nhi của nhà thơ Lê Hồng Thiện "trong veo tiếng Việt" (là tựa vào "tứ" của bài thơ "Trong veo bầu trời"). Thuần Việt là một đặc điểm của ngôn ngữ thơ trong thơ Lê Hồng Thiện. Tôi nghĩ đó là một sức mạnh của thơ ca.

Thực tế cho thấy tiếng Việt trong thời đại thị trường và kỹ trị đang bị "xả thịt" (tiêu biểu kiểu như "Sát thủ đầu mưng mủ", và không hiếm trong thơ của những người trẻ mới tập làm thơ). Tôi có điều kiện đọc được nhiều tác phẩm văn chương đương đại. Nếu là văn xuôi thì tác giả thường chú ý đến "chuyện" (người ta gọi vui là "câu - viu", mà thường quên mất văn). Nếu là thơ thì thường chú ý đến những lối cách tân kỳ  - hậu hiện đại chẳng hạn - tất cả tít mù và rối ren; xin quý vị thử chịu khó đọc lại tập thơ "Dự báo phi thời tiết" của nhóm Ngựa Trời sẽ thấy xót xa "thơ đi về đâu?" và "tiếng Việt đi về đâu?".

Tôi đã làm một việc rất chi là thủ công: Đếm. Đếm trong tổng số 102 bài thơ (với tổng số 948 câu thơ) trong "Thơ Lê Hồng Thiện - Tác phẩm và dư luận", có bao nhiêu phần trăm từ Hán Việt và từ ngoại nhập Âu-Mỹ? Một kết quả khiến không riêng gì tôi mà độc giả yêu thơ Lê Hồng Thiện nói chung sẽ phải "ngạc nhiên chưa?".

Xin đưa ra con số thống kê cụ thế: chỉ có 11 từ Hán - Việt (trung thu, mẫu giáo, thần thông, giao thừa, trực ban, ca sỹ, Trường Sơn, quân hiệu, chiến sỹ, hoàng hôn, cổ thụ ) và một từ tiếng Anh/Pháp (ăng - ten). Với đặc tính về từ loại tiếng Việt có đến bảy mươi (70) phần trăm là từ Hán - Việt, khi sáng tác thơ cho thiếu nhi, nhà thơ Lê Hồng Thiện đã có một nỗ lực phi thường để "Việt hóa" ngôn từ thơ. Không phải ai cũng ý thức được sâu sắc điều đó.

Không phải ai cũng dụng tâm lao động nghệ thuật được như thế. Vì văn chương nói chung, thơ ca nói riêng, với tuổi thơ không phải là "hàng hóa" mà là "quà tặng". Giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhịp điệu là đặc trưng thơ Lê Hồng Thiện viết cho trẻ thơ. Đúng như tiên đề "Cái Đẹp là sự giản dị".

Đọc bài thơ "Ngủ" của nhà thơ Lê Hồng Thiện, tôi như được nhập vào thế giới lung linh, trong veo tâm hồn của tuổi thơ: "Âm thanh ngủ ở cây đàn/ Ngọt ngào ngủ ở muôn vàn trái cây/ Nước mưa nằm ngủ trong mây/ Hương thơm nằm ngủ cả ngày trong hoa/ Bóng râm ngủ dưới gốc đa/ Trẻ con ngủ dưới mái nhà ấm êm/ Chỉ riêng có một trái tim/ Chẳng bao giờ ngủ cả đêm lẫn ngày". Bài thơ lục bát chỉ có 8 câu mà chứa đựng được biết bao nhiêu điều thấm thía cả về tạo vật, cả về con người, lại đượm triết lý nhưng rất may mắn là không sa vào "triết lý vặt", như ai đó nói, rất hay nổi phềnh trong thơ ca đương đại nói chung, thơ trẻ nói riêng.

Bìa tập sách mới của nhà thơ Lê Hồng Thiện.
Bìa tập sách mới của nhà thơ Lê Hồng Thiện.

Nhưng cơn cớ nào đã khiến cho tiếng Việt trong thơ Lê Hồng Thiện rất "thuần Việt" và như cách bình của tôi là "trong veo tiếng Việt?". Tôi nghĩ bệ phóng, chân rễ của sự trong veo, thuần khiết ấy là một tâm hồn thơ đậm đà chất "mục đồng". Nói thế không biết có chạm tự ái nhà thơ? Kính mong nhà thơ đừng tự ái! Đọc thơ, như tôi kinh nghiệm, đầu tiên phải tìm ra cái "điệu hồn" của nhà thơ. Cảm hội của riêng tôi khi đọc bài thơ "Đề từ" (trong tập thơ "Cả nhà cùng vui"), là ở đó phát lộ điệu hồn thơ Lê Hồng Thiện.

Bằng chứng là: "Mỗi người một mảnh vườn riêng/ Thị Mầu bạn mến…Tôi kiêng Thị Mầu/ Rễ bèo tôi bảo là râu/ Biển sóng bạc đầu nói biển đùa nô/ Cả đời yêu tiếng bi bô/ Tóc càng bạc trắng ngây thơ càng nhiều/ Hồn tôi thả một cánh diều/ Căng dây, đón gió:chạy theo mục đồng".

Đọc thơ Lê Hồng Thiện, tôi lại liên hệ tới cái SLOGAN của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel: "Hãy nói theo cách của bạn". Cái chất "mục đồng" trong thơ Lê Hồng Thiện không cần phải đính chính, nếu cần phải nói như thế. Là bởi chỉ cần đọc 102 bài thơ (như là tinh tuyển) của nhà thơ sẽ thấy ông từ đầu đến cuối luôn mở lòng mình với thiên nhiên, tạo vật. Đây là một thế mạnh của nhà thơ. Con người hiện đại đang tự mình chôn mình vào những "hố đen", đang tự mình tạo ra nhân tai, đang tự lìa xa bà mẹ thiên nhiên vĩ đại bằng cách tàn sát không thương tiếc nó (gần 800 nhà máy thủy điện và nạn xả lũ là một ví dụ sinh động, Tây Nguyên 40 năm qua mất trắng một phần hai (1/2) diện tích rừng bởi con người, thêm một ví dụ).

Thơ của nhà thơ Lê Hồng Thiện, nếu nhìn từ góc độ văn hóa, là một đóng góp khi giúp con người ngay từ thuở ấu thơ phải biết yêu thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên, biết cách hòa mình với thiên nhiên. Nhân cách con người có thể bắt đầu từ ứng xử với thiên nhiên. Đó là ứng xử của con người không chỉ thông minh mà là có văn hóa.

Sở dĩ tôi nói đến cái điệu hồn "mục đồng" trong thơ của nhà thơ Lê Hồng Thiện viết cho trẻ thơ là vì nhân cách con người hình thành chính ngay trong giai đoạn ấu thơ. Lúc măng mới mọc thẳng. Nếu nói Lê Hồng Thiện là một nhà thơ "chân quê" theo cách nói của Hoài Thanh - Hoài Chân trong "Thi nhân Việt Nam", cũng phù hợp. Nhưng có lẽ hơi bị… cũ và sáo mòn chăng? Nên tôi muốn như là người đầu tiên đọc thơ Lê Hồng Thiện và rất yêu thích cái chất "mục đồng" trong thơ ông. Và nêu nó lên như một phẩm tính, một cách định vị thơ của nhà thơ Lê Hồng Thiện trên văn đàn.

            Hà Nội, tháng Năm, 2017

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.