Phong Slư: Máu và lửa

Phong slư là thơ tình yêu. Thơ trữ tình. Một thể thơ thất ngôn truyền thống của người Tày. Bài phong slư được chia bốn câu thành một khổ. Nội dung bài thơ có thể ngắn, dài, có khi cả mấy trang giấy. Tùy theo sức sáng tạo và tình cảm của người viết. Nhưng bài phong slư nhất thiết phải được thể hiện trên giấy hồng điều. 

Theo dân gian Tày, màu đỏ là của máu và của lửa. Màu của tâm nguyện chiến thắng. Màu của may mắn. Họ không bao giờ viết nó trên những tờ giấy màu nhợt nhạt, trắng bệch. Họ cho rằng đó là những tình cảm nước đôi, trắng đen lẫn lộn, đầy sự lập lờ giả dối. Người Tày coi sự giả dối là một hành vi ăn cắp. Ăn cắp lòng tin, là một hành vi đáng khinh bỉ nhất. Người tử tế đứng đắn, không bao giờ chơi với kẻ đạo đức giả. Huống chi trong tình yêu, tình bạn.

Cha ông chúng tôi viết phong slư bằng chữ nôm Tày. Đến lứa đàn anh đàn chị viết bằng chữ la tinh phiên âm Tày Nùng. Lời thơ bóng bẩy mượt mà, đa phần viết theo lối khoa trương, cách điệu. Nói đây chết cây… châu Phi.

Lập tuyết khẩu mủa xuân đang slí
Mọi thình bjooc lắp lý phông khao
Mật mèng dú chang đông vén vẹn
Ước xuân mà én nhạn rổp căn

Tạm dịch:

Lập tuyết vào mùa xuân vừa lúc
Đang đến kỳ nở rộ muôn hoa
Bướm ong từ rừng xa núi thẳm
Mong xuân về én nhạn hòa ca

Phong slư hầu như chỉ nói về các cung bậc tình cảm, của những người đang yêu. Khi nó là tiếng nói thủ thỉ tâm tình. Lúc hóa thành dòng thác nhớ nhung tha thiết. Nào ai biết ai nay nhớ mai quên. Sẵn sàng bỏ người tình theo chân người khác. Nghĩa là trăm mối tơ vò trong gan ruột. Nghìn cung bậc tình yêu chắt ra thành lời bài hát. Tự mình viết lấy là chính. Nhưng cũng có nhiều người không biết chữ, đành phải nhờ mấy ông slấy sli nhà thơ bình dân viết hộ.

Tiết mục hát đối đáp Phong Slư “Chập nọng pây háng” của người Tày vào mùa Xuân.
Tiết mục hát đối đáp Phong Slư “Chập nọng pây háng” của người Tày vào mùa Xuân.

Viết xong bài thơ, mới được một nửa công việc. Người ta tô vẽ minh họa vào bên lề bài thơ. Khi là đôi con chim én ngậm thư. Hoặc chim bồ câu bay qua cánh đồng hoa hồng thắm. Hoặc vẽ hai con rồng chầu mặt trăng. Chầu lâu đến nỗi rồng hóa thành sông thành suối. Nỗi nhớ chảy bạc cả cánh rừng. Vậy mà trăng vẫn xa. Vẫn mãi mãi xa. Tình người sao chẳng thể gần nhau. Có lá phong slư dài hàng mét. Người ta treo nó lên như tranh, ở nơi phòng ngủ của riêng mình. Họ trả công cho ông slấy sli con gà, ống gạo. Hoặc túm bánh cóoc mò bánh sừng bò. Xem đây là nhuận bút của một thời. Mấy ông nhà thơ bình dân vui vẻ bằng lòng chẳng hề chê ít.

Thời nhà Mạc dời đô lên Cao Bằng (1594-1677), triều đình đã mở trường học cho nhân dân quanh vùng. Họ còn tổ chức các khóa thi chọn người tài, phục vụ cho việc an dân trị quốc. Vì thế quê tôi đã sớm hình thành đội ngũ trí thức, có khá nhiều người tài giỏi xuất chúng. Đặc biệt có một vài cây bút đã hình thành phong cách, có dấu ấn cá nhân. Song, họ vẫn là nghệ nhân bình dân làm thơ, nhân dân gọi họ là slấy sli.

Những người nổi tiếng nhất, là ông Bế Văn Phụng ở Bản Vạn châu Thạch Lâm nay thuộc Hòa Anh và Vua Ca Đáng Nông Quỳnh Vân. Ông là người ở tổng Nga Ổ, châu Thượng Lang, nay thuộc Trùng Khánh. Ông Nông Quỳnh Vân đã để lại tác phẩm "Lượn Tam nguyên" độc đáo, truyền đến tận ngày nay.

Tiếp đến là ông đồ Hậu, ở vùng núi Lam Sơn, vào đầu thế kỷ XX. Một ông đồ là người nổi tiếng, lãng mạn đa tình, nhưng thơ thậm hay. Thơ ông viết như gà đẻ trứng. Nhiều đến nỗi không nhớ thơ mình đang nằm rải rác ở đâu. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng tích cực, lan truyền sâu rộng ở vùng đồng bào Tày.  

Tại sao người ta gọi là Vua Ca Đáng thì hơi lạ. Vì suốt đời ông ấy chỉ lấy nghiệp cầm ca làm vui. Có thể gọi vua một cách phiếm chỉ. Gọi vua thơ, nghe có vẻ hợp lý hơn. Ông để lại hậu thế nhiều bài thơ tình "rớm máu".

Các slấy sli người Tày, sử dụng ngôn ngữ Tày cực kỳ điêu luyện và chuẩn xác. Thơ ông đồ Hậu có thể sánh ngang với thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan.

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, thơ ông đã được con cháu nội tộc sưu tầm và xuất bản. Tôi có nghe nhà thơ Nông Quốc Chấn kể rằng: Chính thầy Hậu đã từng dạy chữ nho, truyền dạy cho mấy anh em ông biết cách làm thơ. Họ rất tự hào về người thày văn chương đầu tiên của mình.

Bất kể thanh niên người Tày Cao Bằng hay Bắc Kạn, họ đều lấy thơ của các ông hát lượn đối đáp. Hát tràn đêm vẫn chưa hết vốn. Nhiều người đã chép tay trên giấy bản. Truyền cho nhau đọc đến nỗi mờ nhòe mặt chữ. Thơ phong slư đã trở thành tài sản văn hóa độc đáo, để đời cho con cháu.

Ngày xưa, phong slư dùng để ngâm là chủ yếu. Họ ngâm vào bất cứ chỗ nào và bất cứ lúc nào. Nhớ người yêu là ngâm phong slư. Nếu lòng này không nói ra được thì tóc ốm tám tháng và mắt đau một năm. Nỗi nhớ người yêu chảy ra từ mười đầu ngón tay, xuống đến gót chân. Nỗi nhớ không còn đường đi. Nỗi nhớ buộc phải nhả ra đằng miệng.

Ôi! Giá mà các bạn được nghe người ta ngâm phong slư trong khoảng trời chiều. Người của bạn sẽ chảy ra như sáp ong như chì nướng. Bởi một nỗi buồn tím tái từ hoàng hôn loang ra, gặp phải lòng người đang buồn rầu. Nỗi lòng bất an đang bị nắng nhuộm vàng như nghệ, nhột nhạt buồn buồn như bãi cỏ. Nỗi lòng này chuyển ngược lên đỉnh núi. Đá núi cũng thẫn thờ, huống chi trái tim các chàng các nàng đang yêu.

Ngày nay, nhiều người dùng phong slư để hát lượn. Hoặc nói thơ. Giống như các nhà thơ ngày nay đọc thơ trên nền nhạc. Từ lâu, ngâm thơ đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa của người Tày. Họ có thể hát khi đi rừng hái củi. Đi làm cỏ nương. Đi bắt ong đất. Đi đào củ mài. Chẳng ngứa cổ cũng hát cho rừng núi có tiếng người. Những khi buồn, vừa cất tiếng hát lên đã ướt cả hai bên má. Mặn mòi thương nhớ rỉ ra từ đôi mắt biếc.

Phong slư không có mùa. Như tình yêu con người quanh năm không ngày tháng. Chỉ khi nào tự cấu véo thật mạnh vào da đùi mình, không còn cảm giác đau, khi đó mới ngừng yêu.

"Cẩu slíp pi nhằng pàn khảu sluổm". Nghĩa là "Chín mươi tuổi còn bò vào cửa buồng". Các bạn thấy đấy. Đời sống tình yêu của người Tày mạnh mẽ đến mức nào.

Y Phương

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.