Nữ sĩ Xuân Quỳnh - Thơ như cuộc đời

Trong thơ cũng như trong đời, Xuân Quỳnh luôn tỏ ra là một người quyết liệt, yêu ghét đều phải hết lòng. Trong tâm hồn nhạy cảm của Xuân Quỳnh không có một thứ tình cảm nào buông trôi nửa vời. Bao giờ chị cũng đẩy cảm xúc lên ở mức độ cao nhất. Chị luôn thể hiện, luôn nói đến tận cùng những tình cảm của mình.

"Ngọn gió Lào cát trắng của đời tôi  
Tôi của cát của gió Lào khắc nghiệt

“Gió Lào cát trắng” thuộc trong số những bài thơ hay nhất của Xuân Quỳnh. Nó thể hiện một thời kỳ chiến tranh ác liệt của đất nước, đồng thời cũng thể hiện rõ tính cách con người chị.

Hai câu thơ Xuân Quỳnh lấy làm đề từ cho tập thơ “Gió lào cát trắng” đã ám vào đời chị như một tiền định của số phận. Đang ở trong môi trường thuận lợi, hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Đoàn ca múa với những người bạn, người chị thân thiết như trong một gia đình, với những chuyến đi biểu diễn thường xuyên ở nước ngoài. Biết bao người đã mơ ước có được một vị trí như chị.

Nữ sĩ Xuân Quỳnh - Thơ như cuộc đời -0
Nhà thơ Xuân Quỳnh thời trẻ.

Bản thân Xuân Quỳnh khi mới được tuyển về Đoàn văn công, được ra sống ở Thủ đô Hà Nội, đã cảm thấy như một sự đổi đời, không còn mong ước gì hơn thế. Không chỉ tập luyện và biểu diễn, Xuân Quỳnh còn say mê với công việc đi sưu tầm và khai thác những điệu múa lưu truyền trong dân gian.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông kể lại rằng một lần ông cùng nhà văn Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Trọng Hứa đi lên Lũng Cú nơi cực bắc của Tổ quốc. Nhà văn Nguyễn Tuân đã hỏi cả đoàn: “Các anh có biết chúng ta lên đây hơi muộn rồi không, trong giới văn nghệ đã có người lên đây trước chúng ta rồi, biết ai không?”. Mọi người lắc đầu, chịu không biết.

Sau khi tợp một ngụm rượu, Nguyễn Tuân chậm rãi kể: “Có một người con gái 17, 18 tuổi gì đó đã lên Lũng Cú trước chúng ta để cùng với đoàn đi tìm những điệu múa dân tộc, mà thời đó từ Hà Giang lên Đồng Văn chưa có đường ôtô chỉ toàn đi bằng ngựa hoặc đi bộ được thôi. Cô gái đó là Xuân Quỳnh, một diễn viên múa trước đây, bây giờ là nhà thơ trong Hội chúng ta rồi đấy”.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông rất thích thú và ngạc nhiên. Khi về Hà Nội, ông tìm gặp Xuân Quỳnh để hỏi và đã được xác nhận là đúng như thế. Xuân Quỳnh kể rằng hồi đó Đoàn ca múa có chủ trương khai thác các lời ca, điệu múa cổ lưu truyền trong nhân dân. Đặc biệt là các điệu múa của bà con dân tộc miền núi phía Bắc.

Những năm ấy hầu như chả có phương tiện quay phim, chụp ảnh gì. Chẳng có cách gì hơn là mình phải sống cùng với bà con, rồi trực tiếp học hỏi tiếp thu từ họ. Mà đâu phải lúc nào mình muốn là họ làm theo ý mình ngay. Có những lúc phải ở nhà, vào rừng, lên nương... cùng họ hàng bao nhiêu ngày mới tiếp thu trọn vẹn được một điệu múa. Trong những chuyến đi điền dã hầu như bao giờ Xuân Quỳnh cũng là người thu hoạch được nhiều kết quả nhất. Một phần vì chị xinh đẹp, dễ gần, phần nữa vì Xuân Quỳnh rất thích thú, say mê với công việc này.

Thế nhưng mọi việc không xuôi chèo mát mái được mãi. Năng khiếu và lòng yêu thơ ca trỗi dậy, khiến Xuân Quỳnh không thể yên lòng với cuộc sống của một cô văn công. Suốt một thời gian dài Xuân Quỳnh cứ loay hoay với sự lựa chọn: một bên là nghề diễn viên múa yên ổn chắc chắn, một bên là con đường thơ ca đầy quyến rũ nhưng cũng thật bấp bênh, không biết rồi sẽ thế nào, sẽ đi về đâu.

Xuân Quỳnh viết thư tâm sự với nhà thơ Vân Long - một người anh, người bạn khi đó cũng ở cùng Đoàn. “Tôi bây giờ như một kẻ đứng giữa ngã ba đường vắng mà trời thì tối, chẳng biết hỏi ai. Giá mà bây giờ có ai bảo hộ tôi một điều rằng: “Đi con đường này là đúng” thì dù biết có gục ngã giữa đường tôi vẫn cứ đi. Tôi chỉ sợ mình không biết phương hướng rồi sau này cũng chẳng ra trò trống gì, mà cứ lo nghĩ mãi thế này thì hết đời”.

Những bài hát, những điệu múa... đã từng cuốn hút Xuân Quỳnh hơn mọi thứ trên đời. Nó đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của chị. Từ một cô bé mồ côi, bơ vơ lạnh vắng trong cái làng nhỏ hiu quạnh bước lên sân khấu dưới ánh sáng lộng lẫy của đèn hoa và những tràng pháo tay hâm mộ.

Tuổi 18 đôi mươi, Xuân Quỳnh có một nhan sắc khiến bao người thầm thương trộm nhớ. Biết được ý định rời khỏi Đoàn Ca múa Trung ương của Xuân Quỳnh, nhiều người cho là điên rồ và hết lời khuyên can chị không nên viển vông và phiêu lưu như vậy. Nhưng Xuân Quỳnh đã quyết và không gì có thể lay chuyển nổi.

Sự chuyển hướng này là một sự lạ lùng, không sao giải thích được trong con mắt mọi người. Thêm một lý do nữa, khiến họ ngạc nhiên, bởi vì ngoài việc đã có nghề nghiệp ổn định, tương lai nhiều hứa hẹn, lúc này Xuân Quỳnh đã có chồng chưa cưới là anh Tuấn - một nhạc công đàn violin ở cùng Đoàn. Anh Tuấn là người hiền lành, tốt bụng, khéo tay, chăm sóc Xuân Quỳnh chu đáo.

Từ đoàn Ca múa Trung ương, năm 1962 Xuân Quỳnh được tham gia lớp Bồi dưỡng lực lượng nhà văn trẻ do Hội Nhà văn tổ chức, kéo dài hơn hai năm. Khóa học đó có khoảng gần ba chục người. Hầu hết sau này đều trở thành những cây bút tên tuổi, có vị trí xứng đáng trên văn đàn. Ít tuổi nhất khóa học là Xuân Quỳnh và Nguyễn Thị Ngọc Tú. Nhiều tuổi nhất là nhà văn Võ Huy Tâm. Ngoài ra còn có thể kể đến một số tên tuổi khác như Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Xuân Khánh, Xuân Cang, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Quang Thân, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Trọng Oánh, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc...

Lớp học đặt ở trại sáng tác Quảng Bá, một khu đất rộng và đẹp nằm kề bên Hồ Tây. Vốn là người ham học hỏi, Xuân Quỳnh cảm thấy thật may mắn khi được theo học lớp viết văn đầu tiên này. Chị được học với những người thầy ở đỉnh cao kiến thức như Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Cao Huy Đỉnh, Nam Trân... Và đương nhiên, lớp học còn được đón nhận nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi đến truyền đạt kinh nghiệm, dẫn dắt vào nghề sáng tác: Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Bùi Huy Phồn, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên...

Không chỉ được thu nhận về kiến thức, cảm hứng sáng tạo ngày càng được nảy nở và bồi đắp. Xuân Quỳnh háo hức bước vào một chặng đường mới của cuộc đời mình. Chuyên tâm và gắn bó hoàn toàn với công việc sáng tác thơ ca. Con đường chị đã lựa chọn sau bao nhiêu đắn đo, cân nhắc, giờ đây đã tìm được câu trả lời xác thực nhất. Chị đã không nhầm lẫn chút nào khi cá cược cả cuộc đời mình vào những câu thơ. Thơ ca đã đem đến cho cuộc sống của Xuân Quỳnh bao ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ hơn.

Trong tiểu sử văn học, trả lời đề mục nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học, Xuân Quỳnh nêu hai điểm: “Vì thích thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Vì uất ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết. Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không được yêu, mà mình được yêu. Như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng”.

Nữ sĩ Xuân Quỳnh - Thơ như cuộc đời -1
Tổ ấm đầu tiên của nhà thơ Xuân Quỳnh.

Say mê, háo hức và quả quyết khi dấn thân vào con đường văn học nhưng không phải lúc nào mọi việc cũng diễn ra suôn sẻ. Xuân Quỳnh không tránh khỏi sự hẹp hòi, đố kỵ, nghi ngại ở một vài người, ở chỗ này chỗ khác. Nhưng vốn là một cô gái có bản lĩnh sắc sảo, có cá tính và điều quan trọng là có tài năng, nên Xuân Quỳnh đã nhanh chóng vượt qua được những khó khăn trong công việc và cuộc sống.

Có thời gian Xuân Quỳnh phải làm công việc giữ trẻ rồi làm thủ thư, giữ sách tại thư viện của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Hồi đó Xuân Quỳnh làm việc ở thư viện cùng với chị Trần Phúc Mộng Loan. Chị Loan là người yêu của nhà văn Bùi Đức Ái (Anh Đức). Khi chị Loan xin đi vào Nam với nhà văn Anh Đức, thư viện được giao cho người khác trông coi. Chị Quỳnh cũng chuyển đi làm một vài việc khác rồi cuối cùng được nhận về Báo Văn nghệ, lúc đó do nhà thơ Hoàng Trung Thông phụ trách.

Ban đầu Xuân Quỳnh cũng chỉ làm công việc nhận bài vở, ghi vào sổ sách rồi phân loại chia về các tổ cho biên tập viên xử lý. Một thời gian sau, Xuân Quỳnh mới được phân về làm biên tập viên tổ thơ của Báo Văn nghệ, trong tổ có nhà thơ Vĩnh Mai đã truyền đạt cho Xuân Quỳnh nhiều kinh nghiệm trong nghề biên tập.

Tập thơ “Tơ tằm - Chồi biếc” (in cùng với Cẩm Lai) như một tấm giấy thông hành để Xuân Quỳnh chững chạc bước vào làng thơ. Tập thơ đầu tay này đã được các nhà văn nhà thơ lớp trước như Vũ Tú Nam, Anh Thơ... viết bài động viên, khích lệ khiến Xuân Quỳnh rất vui và tự tin.

Trong thơ cũng như trong đời, Xuân Quỳnh luôn tỏ ra là một người quyết liệt, yêu ghét đều phải hết lòng. Trong tâm hồn nhạy cảm của Xuân Quỳnh không có một thứ tình cảm nào buông trôi nửa vời. Bao giờ chị cũng đẩy cảm xúc lên ở mức độ cao nhất. Chị luôn thể hiện, luôn nói đến tận cùng những tình cảm của mình.

Đặc điểm này đem sức nặng đến cho nhiều bài thơ của chị và nó cũng đem đến cho cuộc đời chị nhiều nỗi đắng cay. Xuân Quỳnh đã đem chính cuộc đời mình ra để đổi lấy những câu thơ. Với chị, cây bút như là một cái “nghiệp”, như là số phận, không thể khác được. Nhà thơ Bằng Việt đã diễn tả thật chính xác trạng thái tình cảm đó của tác giả “Gió lào cát trắng” trong một bài thơ viết tặng bạn:

Lại con đường đỏ rực dưới cây xanh
Đi như lao, như lửa cháy trong mình
Nhịp thơ bạn bỗng bồi hồi mạch đập
Những sườn dốc; rồi những cua vòng gấp
Băng trong đời, như bạn đã từng quen

...

Vẫn đó - gió Lào cát trắng trong thơ
Những thượng nguồn sông, buồn vui bất chợt
Như lòng bạn, lũ trào dâng đột ngột
Cuốn mình đi, đắp những bãi bờ xa.

Lưu Khánh Thơ

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.