Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.

Tấm gương về tài năng, nghị lực và tinh thần lạc quan

Phan Thị Thanh Nhàn sinh ngày 9 tháng 8 năm 1943 tại phườngTứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội. Chị tốt nghiệp Khoa Báo chí trường Tuyên giáo Trung ương, sau lại tốt nghiệp khoá V trường bồi dưỡng nhà văn trẻ Hội Nhà văn, khóa cao học ngắn hạn Học viện M. Gorky (Liên Xô cũ).

Chị làm phóng viên báo Hà Nội mới, sau làm Phó Tổng biên tập của báo; Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà văn Thành phố Hà Nội, Phó Chủ tịch thường trực Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Thành phố Hà Nội. Ngoài thơ, chị viết báo, truyện ngắn, truyện thiếu nhi.

Thơ chị được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông trước đây và cả hiện nay như: “Nàng tiên ốc”, “Làm anh”, “Hương thầm”, “Đồ đạc trong nhà”... Nhiều năm trước và hiện nay, chị trong Ban Chung khảo Hội đồng Giám khảo Quốc gia cuộc thi Viết thư quốc tế UPU Việt Nam. 

-nh nhà tho phan th- thanh nhàn và tác gi-.jpg -0
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn và tác giả.

Gặp ai chị cũng cười hồn hậu, gần gũi, sau này tôi mới dần hiểu đời chị không ít truân chuyên. Đáng nói là chị can đảm và giàu nghị lực. Là con một gia đình kinh doanh đông con (5 gái, ba trai), tuổi thơ của chị không thể nhàn nhã. Một em trai của chị là Phan Văn Khải vào bộ đội, từng chiến đấu, hy sinh anh dũng, là liệt sĩ chống Mỹ.

Lớn lên chị sánh duyên cùng nhà dân tộc học Nguyễn Ngọc Nhị, cũng là nhà thơ Thi Nhị (1937 - 1979). Thật tiếc hạnh phúc của chị không được bền lâu bởi anh ra đi đột ngột, để lại trong chị bao xót thương. Nhưng chị không gục ngã. Thơ đã tiếp sức giúp chị chiến thắng.  Ở tuổi ngoại bát thập chị vẫn tích cực: đi bộ, đi bơi, đạp xe quanh Hồ Tây, luôn lạc quan, yêu đời và tiếp tục sáng tác

Những áng thơ tình còn mãi với thời gian

Những năm 60 thế kỷ trước chị đã có thơ đăng báo. Tác phẩm tiêu biểu: “Bông hoa không tặng” (1987), “Nghiêng về anh” (1992), “Con muốn mặc áo đỏ đi chơi” (2016) Phan Thị Thanh Nhàn - tuyển tập thơ (2015), “Nhẫn cỏ” (2021)… Hơn 60 năm cầm bút, thơ chị rất phong phú song về đề tài song những áng thơ tình đã làm nên tên tuổi sáng chói của chị.

Thơ tình của Phan Thị Thanh Nhàn hàm chứa mọi cung bậc tình yêu. Chị tái hiện rất sinh động, tinh tế những rung động đầu đời ở những cô gái, chàng trai khi con tim mới biết bối rối đến những cung bậc tình yêu nồng nàn, say đắm và sự đơn côi, trống vắng trong tình yêu.

Nét riêng nổi bật thơ chị là viết rất dung dị, chân thực và tươi ròng sự sống. Chị hiểu và nói hộ những tâm tư, cảm xúc, khát khao, ước vọng của những bạn trẻ khi tình yêu vừa chớm hé. Điều ấy được kết tinh qua bài Hương thầm, viết về tình yêu vừa nhen của đôi bạn “học chung một lớp”.

Bạn trai lên đường nhập ngũ, cô gái hái chùm hoa bưởi giấu trong khăn tay sang chơi, cả hai thẹn thùng, e ấp: “Họ ngồi im không biết nói năng chi/ Mắt chợt nhìn nhau rồi lại quay đi/ Nào ai đã một lần dám nói?/ Hương bưởi thơm cho lòng bối rối/ Anh không dám xin,/ Cô gái chẳng dám trao”. Chỉ sớm mai thôi, cả hai sẽ không gặp nhau nữa; có bao điều cần nói song họ chia tay trong im lặng: “Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao/ Không giấu được cứ bay dịu nhẹ”. Nhà thơ thật tài tình khi xây dựng “nhân vật thứ ba” - hương bưởi. Hương hoa tinh khiết nói hộ tấm lòng cô.

Thời khắc thiêng liêng này, con tim xao xuyến không nói nên lời: “Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu”. Chàng trai lên đường có hương bưởi “thơm mãi bước người đi”. Đôi bạn chia tay nhưng tình yêu của họ bất tử. Tứ thơ thật mới lạ, ngôn ngữ giàu sức gợi.

Năm 1969 bài thơ đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báoVăn nghệ. Như một hiệu ứng dây chuyền, rất nhiều bạn trẻ, nhất là các chiến sỹ yêu thích, chép bài này vào sổ tay, nâng niu cất giữ. Từ đó, thi phẩm trở thành biệt danh, hễ nói đến nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là người ta nói đến “Hương thầm” và ngược lại.

Thơ chị còn thấu hiểu rất sâu sắc tình cảm những đôi lứa yêu nhau đến độ nồng nàn. Trong “Đám cưới ngày mùa”, chỉ vài câu cô đọng, nhà thơ đã khiến người đọc cũng ngây ngất cùng các cụ ông, cụ bà và những chàng trai, cô gái khi tình yêu đến độ dâng lên sóng mắt: “Các cụ ông say thuốc/ Các cụ bà say trầu/ Còn con trai con gái/ Chỉ nhìn mà say nhau”. Riêng hai câu thơ nói về các chàng trai, cô gái “chỉ nhìn mà say nhau” chứng tỏ thi nhân đã thấu cảm tâm tư của thanh niên nam nữ đến thể nào mới diễn tả được hàm súc như thế về một tình yêu say mê, đắm đuối.

Thơ tình yêu của Phan Thị Thanh Nhàn rất giàu tính minh triết. Bài thơ “Trời và đất” đăng trong “100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX” (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 2007) là ví dụ tiêu biểu. Không ai nghĩ nhan đề của bài mang cảm hứng vũ trụ như thế lại là một bài thơ tình độc đáo, khái quát lên những vấn đề mang tính quy luật trong tình yêu và hôn nhân.

Với giọng điệu đằm thắm, tinh tế, bài thơ là sự phát hiện rất riêng khiến người đọc có những liên tưởng so sánh thú vị. Trời, đất vốn là những thực thể thiên nhiên lớn lao. Trời thay đổi rất nhanh về màu sắc, được cảm nhận đại diện cho phái mạnh. Còn đất ngược lại luôn “trầm tư”, nhẫn nại, “khiêm nhường” là hiện thân của em, phái đẹp.

Khổ thơ thứ hai của bài cho thấy: anh và em không chỉ khác nhau bề ngoài, tính cũng chẳng giống nhau, còn xung khắc nữa: “Vâng, trời đất chẳng hề thân thiết/ Và tính tình có giống nhau đâu/ Trời vui buồn ồn ào lộ liễu/ Đất trầm tư suy nghĩ trước sau”. Đất chấp nhận tất cả những gì rơi vào, gieo cấy lên nó và “thẳm sâu lặng lẽ sinh sôi”.

Từ đó, nhà thơ thấy một quy luật tất yếu của cuộc sống: anh và em sống không thể thiếu nhau, chỉ khi cộng hưởng, bù trừ, đắp đổi, cả hai mới tạo thành vũ trụ để thế giới này trở nên hài hòa, đẹp đẽ. Ngược lại nếu thiếu một trong hai đối tượng, cuộc đời sẽ không còn ý nghĩa: “Nhưng anh có biết không trời? Trời đất/ Sẽ chẳng là gì nếu thiếu nhau”. Đây quả là bài thơ tình mới lạ và ấn tượng nhất trong thơ ca hiện đại.

Trong cuộc đời, tình yêu là món quà kỳ diệu  của tạo hóa, đem đến biết bao niềm vui và những khổ đau, giận hờn. Bài thơ “Con đường” nói về mối tình đầu tan vỡ: “Hai ta - ai biết vì đâu? Hai con đường rẽ xa nhau xa hoài”. Khác với thói thường, người ta than tiếc và oán trách khi rơi vào cảnh ngộ ấy.

Phan Thị Thanh Nhàn trái lại, chỉ bày tỏ, nhắn nhủ người yêu cũ một ước nguyện tha thiết: “Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi”, việc tưởng như chẳng quan trọng, chỉ là: “Con đường ta đã dạo chơi/ Xin đừng đi với một người khác em”.

Tứ thơ độc đáo, lắng đọng cho thấy tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Cho dù mối tình trôi qua đã lâu, thời gian và bận rộn của cuộc sống khiến những kỷ niệm thiêng liêng xưa bị khuất lấp nhưng trong sâu thẳm trái tim, nữ sĩ vẫn trân trọng tình xưa như một tài sản tinh thần quý giá trong kho tàng ký ức. Bài thơ muốn nhắn nhủ: Hãy đừng làm tổn thương người cũ, hãy biết trân quý và bảo vệ những kỷ niệm đẹp của tình yêu.

Khi đã nên đôi về sống chung tổ ấm, ai cũng muốn  đồng hành đi đến hết cuộc đời? Nhưng cuộc sống có quy luật riêng, mấy ai được mọi điều như ý nguyện? Khi chỉ còn Một người trên cõi đời, thơ Phan Thị Thanh Nhàn nói rất trúng tâm trạng của bao nhiêu người trong cảnh ngộ ấy: “Căn phòng vắng một người/ Bỗng trở nên trống vắng/ Không còn gì ấm cúng/ Không còn gì vui tươi/…  Không còn ai chờ đợi/ Không ai mà viết thư/ Dẫu bao nhiêu bài thơ/ Chỉ mình em đau xót/ Một mình như trái đất/ Em bây giờ không anh…”.

Từng câu, từng chữ ở đây như được viết bằng nước mắt. Điều đáng quý là nhà thơ buồn nhưng không bi quan, càng không gục ngã. Thi phẩm nhắc chúng ta hãy trân quý nhau khi cùng được sóng bước trên hành trình cuộc đời.

Với những đóng góp nhiều mặt, năm 2007 Phan Thị Thanh Nhàn là một trong số ít cây bút nữ vinh dự được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Thành công của Phan Thị Thanh Nhàn là ở lối viết chân thực, dung dị, giàu nữ tính mà vẫn sâu sắc, in dấu phong cách riêng. Bài “Hương thầm” của chị được được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc, thành bài ca đi cùng năm tháng, là biểu tượng đẹp và cao thượng trong tình yêu  để con người khát khao vươn tới.

Nguyễn Thị Thiện

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.