Nữ quay phim Đỗ Phương Thảo: Giữ một ngọn lửa trong tim

Sau gần 30 năm cho xuất bản tiểu thuyết đầu tay “Mẹ con”, cựu nữ quay phim của Hãng Phim truyện Việt Nam Đỗ Phương Thảo trở lại với độc giả bằng tự truyện thời thơ trẻ của bà. Câu chuyện thấm đượm tinh thần văn hóa trong các bữa ăn truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, đặt trong bối cảnh chính của phố thị Hưng Yên, Hà Nội; qua đó để thấy ẩm thực không chỉ đơn thuần là cộng gộp các món ăn mà là cả một đời sống văn hóa tinh thần không ngừng tiếp nối.

Sinh năm 1940 ở Hưng Yên nhưng sống chủ yếu ở Hà Nội, bà Phương Thảo là gạch nối tinh hoa của hai tiểu vùng văn hóa đi vào tục ngữ, ca dao: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì phố Hiến”. Sự phồn thịnh của chốn kinh đô và sự sầm uất của bến cảng phố Hiến được tạo nên và nuôi dưỡng bởi một phần không nhỏ các giá trị văn hóa nền tảng, trong đó có văn hóa ẩm thực.

Theo thời gian, con người phải thay đổi để thích nghi với điều kiện sống, nhưng vấn đề cốt lõi là văn hóa có ý nghĩa thế nào đối với sự thích nghi đó. “Bếp ấm của mẹ”, cuốn sách thứ hai sau cuốn tiểu thuyết đầu tay "Mẹ con", dưới con mắt của một người làm điện ảnh - bà Đỗ Phương Thảo - đã gợi mở một phần câu trả lời.

Gần 300 trang sách là ký ức, hồi tưởng chân thực những năm tháng tuổi trẻ của bà. Nhưng điều đặc biệt là qua một cuốn sách, không chỉ thể hiện chân dung một con người mà thấy cả gia đình, xã hội, thấy cả thời đại sống của con người đó, trong sự dịch chuyển, vận động không ngừng. Sự dịch chuyển sẽ đưa con người ta tới đâu, câu trả lời không ai chắc chắn. Nhưng bằng cốt lõi văn hóa xây dựng trên nền tảng giáo dục, trước hết là giáo dục từ gia đình, con người sẽ nhận ra đâu là chìa khóa để bước vào đời sống một cách đĩnh đạc, đường hoàng.

Bà Phương Thảo (thời trẻ và hiện tại).
Bà Phương Thảo (thời trẻ và hiện tại).

Trong gian bếp của mỗi gia đình, các món ăn “sống” đời sống của mình từ lúc bắt đầu, hoàn thành rồi kết thúc. Người tạo ra món ăn hoặc người thưởng thức chúng cũng sống một đời sống song hành, trong tiếp nối đón nhận những tình thân thương mến; nhưng không phải để kết thúc, mà để lưu giữ và nuôi dưỡng chúng. Theo thói quen, người ta vẫn chuyện trò để “làm đầy” gian bếp và bàn ăn, mỗi ngày, mỗi ngày, như không thể nào làm khác.

Cuốn sách nhanh chóng dẫn người đọc vào không gian bếp quây quần sau ít dòng mở đầu nói về gia cảnh éo le của tác giả: “Tôi sinh ra ở thị xã Hưng Yên, vùng phù sa văn hóa ven sông Hồng, nơi có phố Hiến, một trong hai địa danh sầm uất sau Kinh Kỳ. Nhà tôi ở giữa Phố chợ cũ, thị xã Hưng Yên, mẹ tôi bán hàng tạp hóa ở phố chợ, bố tôi dạy học ở Xích Đằng, một làng nhỏ ven thị xã...

Năm 1941, bố tôi ốm rồi mất, sau đó chưa đầy hai tháng mẹ tôi cũng đi theo”. Nhân vật chính của cuốn tự truyện, bà Phương Thảo, ở nhà thường được gọi là Bé, khi ấy mới một tuổi. Mồ côi cha mẹ ở tuổi lên một cũng có nghĩa là mồ côi cha mẹ đến hết cuộc đời. Đó là một thiệt thòi không có lựa chọn, mà chỉ được an ủi khi được bù đắp bởi những tình yêu thương khác.

Ký ức bắt đầu dầy lên của cô Bé từ thuở lọt lòng đến tuổi đi học vỡ lòng, vào lớp tư (lớp một). Các món ăn nuôi lớn con người, theo thời gian, cũng lần lượt hiện ra. Từ những món mặn thường ngày như bún thang, cuốn, ốc hấp, lươn om, gà tần hạt sen nấm, canh bánh đa cá rô đồng, cháo trai, bánh nóng, hạnh nhân xào, bún ốc sốt, cá trê om nghệ mẻ tới mâm “cỗ tỉnh” ngày giỗ như bốn bát (măng, mọc, bóng, mực), sáu đĩa (xôi, thịt gà, giò, chả, nem, nộm). Xen lẫn vào đó là các món tráng miệng hay quà vặt như bánh uôi, mứt bí, mứt quất, bánh quế, bánh Tô Châu, củ cải, cốm trắng đập kẹo bột, oản, kẹo lạc, bánh chả, bánh xu xê, bánh bao, bánh bẻ…

Thế giới ẩm thực được nhắc đến mang gương mặt phù sa, châu thổ với cả nét tinh tế lẫn bình dân, cả cầu kỳ lẫn giản dị, song tuyệt đối không đại khái, qua loa mà cẩn thận, kỹ lưỡng ngay từ lúc bắt đầu chế biến cho tới khâu bày biện cuối cùng.

Và hình như phẩm chất kỹ lưỡng của những món ăn được làm ra đã nuôi dưỡng cả mặt thể chất và tinh thần của người thụ hưởng một cách trọn vẹn. Cho nên ăn món ăn, không chỉ để lớn mà còn là để nhớ. Nhớ đến không khí quây quần của gia đình, nhớ đến nơi chốn mình sinh ra, nhớ đến sự khó khăn lúc đói lòng nhưng được sẻ chia bởi những con người nơi mình từng đến...

“Bếp ấm của mẹ” có thể chia thành ba phần chính theo diễn biến cuộc đời nhân vật: Thuở ấu thơ ở Hưng Yên, những năm tản cư vào Thanh Hóa, và đời sống sau ngày hòa bình trở về. Sẵn tố chất của một người từng viết tiểu thuyết, kịch bản phim, cuốn sách đầy ắp những hình ảnh và chi tiết sống động. Ở đó, nỗi nhớ được cụ thể bằng ký ức, các món ăn ấu thơ hiện lên ăm ắp như những lời chào mời nồng nhiệt, hấp dẫn và tiếp nối sau đó một không khí trầm lặng hơn tràn về.

Thay vì bún thang, ốc hấp, lươn om, gà tần (với lời dặn dò, hướng dẫn tỉ mỉ của các bác “con phải”, “con phải” khi thực hiện)… là cháo cho người đói năm Ất Dậu, là canh bầu sao nấu trùng trục ăn lúc dừng chân nghỉ lại trên đường tản cư, là món muối giềng quen thuộc khi xa nhà đi học tại vùng tự do Thiệu Hóa (Thanh Hóa), là cơm nắm ăn với muối trộn lá ớt phục vụ đoàn dân công tải đạn lên chiến dịch Điện Biên Phủ, là những bữa cơm tập thể sau này chẳng còn được chuẩn bị, bày biện cầu kỳ. Những món ăn mang số phận của chính nó, phản chiếu cả gương mặt đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội nó song hành.

Bởi vì hoàn cảnh thay đổi, nên những quan niệm về ẩm thực cũng thay đổi theo, nhất là khi những người xây lên nền nếp văn hóa ấy đã dần mất đi. Từ nơi sơ tán trở về, căn nhà xưa đã bị tiêu thổ kháng chiến, nhiều người thân đã mất, chốn  đình chùa cũng hương lạnh khói tàn, không còn hương hoa, oản quả, không còn cảnh cũ người xưa. Hoàn cảnh ấy để lại trong tác giả nhiều băn khoăn day dứt.

Đương nhiên theo thời gian và hoàn cảnh, có những thứ buộc phải thay đổi để con người lớn lên như thay da đổi thịt, nhưng liệu con người có thể giữ lại được những ký ức tinh thần đẹp đẽ để làm chỗ dựa cho sự lớn lên đó không? Làm cách nào để giữ lại được những nền nếp văn hóa ẩm thực truyền thống của cổ nhân để lại cho con cháu sau này?

Bằng tất cả nỗi băn khoăn đó, “Bếp ấm của mẹ” đã ra đời. Các món ăn vật chất đã mang cả vai trò ý nghĩa văn hóa tinh thần. Món ăn nuôi lớn con người thành ra là món ăn của ký ức, của nỗi nhớ, là sự chăm sóc, sự biểu đạt tình cảm mà nhiều khi người ta không tiện nói ra bằng lời. Theo nghĩa đó, nó còn chứa cả “chức năng hàn gắn”, an ủi nữa.

Năm tháng ấu thơ sống dưới mái nhà ở thị xã Hưng Yên có lẽ là tháng ngày đẹp đẽ nhất nhân vật Bé đã có. Những món ngon nhất từng ăn (bởi từ chính món ăn và bởi không khí bao trùm) giống như liệu pháp tinh thần xoa dịu tâm hồn Bé, bồi đắp tố chất người mẹ ở Bé sự chăm lo vun vén và nghị lực vươn lên.

Từ một cô bé một tuổi mồ côi tới một thiếu niên tản cư trở về, rồi thành thiếu nữ, làm mẹ, làm bà; tố chất ấy không mất đi mà luôn thường trực ở tác giả. Những đoạn ký ức đứt rời với cha mẹ đã được nối liền qua những người bác, phần lớn nhờ các món ăn. Những xa cách với con cái, cũng được nối liền nhờ những bữa “cơm lành”, tươm tất mỗi ngày.

Người xưa nói “Học ăn, học nói” để nhấn mạnh cái cử chỉ hết sức bản năng của con người sao cho “ăn để sống” chứ không phải “sống để ăn”. Không có gì tốt hơn là học từ tấm bé, từ nền nếp gia đình, từ sự thương yêu dạy dỗ của cha mẹ, từ người thân của mình. Không quá sớm cho bài học thực tế đó và cũng chẳng khi nào quá muộn để bắt đầu bất cứ điều gì. 

Còn có mẹ, còn gian bếp ấm. Và còn gian bếp ấm, lòng mẹ cũng bớt cô đơn. “Bếp ấm của mẹ” được viết để ghi lại ký ức lớn lên, để nhớ về, để hàn gắn lại và người đọc, như những đứa con, cũng được sống, được nhận đủ đầy các cung bậc cảm xúc ấy.

Hải An

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.