NSƯT Tạ Duy Hùng: Người dành cả cuộc đời cho xiếc

Góc quán nhỏ, nhìn ra hồ Hoàng Cầu, hằng ngày, NSƯT Tạ Duy Hùng vẫn hỗ trợ vợ bán caphe, trò chuyện với khách hàng. Cuộc sống bình yên của một nghệ sĩ ở tuổi 80, khỏe mạnh, bình an. Nhưng khi nói về xiếc, những ký ức về những ngày làm nghề sôi nổi và nhiệt huyết lại tràn về trong ông. Ở đó, thời gian như dừng lại.

1.Nhiều năm trước, NSƯT Tạ Duy Hùng vẫn ngược xuôi Bắc Nam dàn dựng tiết mục cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các trung tâm vui chơi giải trí cần huấn luyện xiếc thú. Cái lãi lớn nhất của đời xiếc là cho ông sức khỏe, ơn trời, ông vẫn minh mẫn và phong độ. 

Tuổi 80, NSƯT Tạ Duy Hùng vẫn khỏe mạnh, tóc buộc túm, lịch lãm. Ông say sưa kể cho tôi nghe những câu chuyện ngày xưa, thời hoàng kim của xiếc, mà ông cũng góp phần viết nên những trang đáng tự hào nhất trong làng xiếc Việt Nam. Thời đó, gánh xiếc Việt của NSND Tạ Duy Hiển phát triển, huy động lực lượng chính là con cháu trong gia đình. Tạ Duy Hùng, bố mất sớm, 13 tuổi đã đầu quân vào gánh xiếc.

Đoàn xiếc Việt Nam (trong đó có NSƯT Tạ Duy Hùng) được vinh hạnh chụp ảnh với Bác Hồ.
Đoàn xiếc Việt Nam (trong đó có NSƯT Tạ Duy Hùng) được vinh hạnh chụp ảnh với Bác Hồ.

NSƯT Tạ Duy Hùng chia sẻ, điều may mắn lớn nhất trong cuộc đời ông là được làm học trò của NSND Tạ Duy Hiển. Thời trẻ, ông làm xiếc nhào lộn trên không, sau này chuyển sang huấn luyện xiếc thú. Ông là người được NSND Tạ Duy Hiển truyền nghề huấn luyện xiếc thú rất kỹ càng. Đó là sự tận tâm, yêu động vật, hiểu tiếng nói của từng loại động vật. Muốn làm nghề xiếc thú đầu tiên phải làm một công nhân, biết chăm sóc, yêu thương loài vật. 

Những bí quyết và tình yêu mà NSND Tạ Duy Hiển truyền lại cho nghệ sĩ Tạ Duy Hùng đã ngấm vào ông. Cho đến sau nay, khi đã nghỉ hưu, ông còn bận rộn hơn vì những lời mời đi huấn luyện xiếc thú trong Nam ngoài Bắc.

NSƯT Tạ Duy Hùng là một trong những nghệ sĩ xiếc đầu tiên vượt Trường Sơn vào chiến trường biểu diễn phục vụ xiếc cho bộ đội. Ông nhớ lại, đó là năm 1968, ông cùng đoàn xiếc hành quân vượt Trường Sơn, sang Sầm Nưa, mỗi người đươc phát hai bộ quần áo và một đôi giày bộ đội, cùng một số tư trang cần thiết. 

Đường hành quân gian nan, vất vả, thời gian hành quân chủ yếu về đêm. Mất rất nhiều thời gian mới đến được các đơn vị bộ đội biểu diễn phục vụ các chiến sĩ. Nhiều lần cả đoàn thoát chết trong gang tấc khi bị giặc phát hiện, thả pháo sáng và ném bom. Ông chứng kiến, có những nơi, ông vừa biểu diễn, mấy ngày sau quay lại, cả đơn vị đã bị tiêu diệt. 

“Tôi nhớ mãi năm Mậu Tuất, nhận được lệnh hành quân vào Vĩnh Linh, đêm 30 Tết năm đó, tôi nằm ở hầm Vĩnh Linh, không có pháo nổ, không có bánh chưng nhưng ấm áp vì được biểu diễn cho bộ đội xem, xoa dịu nỗi nhớ nhà cho họ và cho cả chính mình”.

Giờ nhớ lại những ngày tháng gian khổ ấy, NSƯT Tạ Duy Hùng vẫn rất tự hào, vì ông đã cùng các nghệ sĩ vượt Trường Sơn vào chiến trường. Ông không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng đã góp một phần bé nhỏ động viên tinh thần các chiến sĩ. Sau những đợt đi biểu diễn ở chiến trường, ông trở về. 

Thời đó, những năm 60-70 của thế kỷ trước, nghệ thuật xiếc rất được quan tâm. Gánh xiếc Việt của NSND Tạ Duy Hiển đã nhiều lần được mời lên gặp Bác Hồ. Chính NSƯT Tạ Duy Hùng cũng được đến Phủ Chủ tịch tiếp đón các phái đoàn ngoại giao đến thăm Việt Nam và biểu diễn xiếc cho họ xem. Cùng với NSND Tạ Duy Hiển, ông đi biểu diễn trong Nam ngoài Bắc, ra nước ngoài giao lưu.

2. Nhưng cuộc đời làm xiếc của ông cũng có những nốt trầm buồn. Ông, cả cuộc đời vất vả, cống hiến, thậm chí nhiều lần đối diện với cái chết. Trên người ông vẫn còn nhiều vết sẹo do tai nạn nghề nghiệp. 

Hồi còn ở gánh xiếc nhỏ của NSND Tạ Duy Hiển ở 310 Khâm Thiên, NSƯT Tạ Duy Hùng biểu diễn xiếc nhào lộn trên không, một lần do sự cố kỹ thuật, ông bị rơi xuống từ độ cao 4m, ngất lịm. Lần đó ông bị gãy xương chậu phải bó thuốc cả tháng. Nhưng ông bảo, thế vẫn còn may mắn, vì đời xiếc chênh vênh. Thực tế, đã có nhiều nghệ sĩ bị những tai nạn khốc liệt phải bỏ nghề. Còn ông, vẫn may mắn được làm nghề đến tận bây giờ.

NSƯT Tạ Duy Hùng.
NSƯT Tạ Duy Hùng.

Ông nổi tiếng nhất ở lĩnh vực xiếc thú. Nhưng cũng vì huấn luyện xiếc thú mà ông dăm ba lần cận kề cái chết. Đó là năm 1959, dân Vĩnh Linh bắt được một con báo đen tặng Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thủ tướng tặng lại đoàn xiếc nên mang về huấn luyện. Cụ Hiển giao cho NSƯT Tạ Duy Hùng chuẩn bị tập huấn luyện. 

Những con báo rừng hoang dã, nguy hiểm, coi con người là kẻ thù, vì thế phải làm thế nào để xóa bỏ ranh giới hận thù trong nó. Ông vẫn còn nhớ lời NSND Tạ Duy Hiển dạy như thế. 

Bền bỉ 3 tháng trời, ông gần gụi, chăm sóc, cho báo ăn, làm quen với nó, kiên trì và nhẫn nại. Sau 3 tháng, NSƯT Tạ Duy Hùng mới vào được một mình với con báo và bắt đầu những tiết mục biểu diễn đầu tiên. Sau một cú nhào lộn, ông thường cho báo ăn thịt gà, nhưng lần đó, nó bỏ gà nhảy bổ vào mặt Tạ Duy Hùng, đến giờ vẫn còn 4 vết sẹo. 

Sau cú tai nạn kinh hoàng đó, cụ Hiển hỏi ông có muốn huấn luyện xiếc thú nữa không, ông vẫn điềm đạm trả lời: “có”. NSND Tạ Duy Hiển mỉm cười hài lòng: “Có như thế mới theo nghề được”. 

Lần tai nạn thứ 2 cũng kinh hoàng không kém khi ông cùng đoàn xiếc đi biểu diễn ở Nam Định. Hai con báo cắn nhau, một con nhảy ra ngoài, ông vội vàng cầm lấy đuôi con báo kéo lại và bị nó cắn một vết dài mấy gang tay, giờ vẫn còn sẹo. “Nghề xiếc thú sinh nghề tử nghiệp. Nếu không đủ tình yêu và lòng dũng cảm thì tôi đã bỏ cuộc”. 

Ông tâm sự. Năm 1962, cụ Trần Duy Hưng - lúc đó là Chủ tịch thành phố Hà Nội tặng đoàn một con gấu nặng 1 tạ rưỡi. Chỉ một tuần sau, ông đã huấn luyện và đưa nó ra biểu diễn. Bởi ông không ngừng học hỏi, khi sang Nga (Liên Xô ngày đó) biểu diễn, ông tự hỏi, sao các nghệ sĩ có thể làm được nhiều tiết mục hay như thế với gấu. Ông lọ mọ dậy sớm xem họ tập để học hỏi và lần đầu tiên, ở Việt Nam năm 1974, ông đã huấn luyện được 5 chú gấu ngồi trên bục và chào khán giả đều tăm tắp. 

“Làm nghề này phải đam mê và trách nhiệm mới làm được, vì nghề vất vả, độc hại, người suốt ngày hôi hám, hai cánh tay lúc nào cũng có sẹo và rớm máu. Đi biểu diễn, các nghệ sĩ có thể tranh thủ tham quan, thưởng lãm, còn tôi, lúc nào cũng canh cánh lo cho đàn thú của mình”.

Ông đã sống một cuộc đời say mê và cống hiến. Dù nghỉ hưu, ông chỉ là Trưởng đoàn xiếc thú với thu nhập khiêm tốn, chưa ráo mồ hôi đã hết tiền. Ông có chút ngậm ngùi. Thế hệ ông, cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật, vào chiến trường nhưng sự ghi nhận cũng chưa tương xứng. Những đóng góp lặng lẽ ấy, hy sinh ấy làm sao có huy chương mang về. 

Thế mà, sau này, các danh hiệu lại chủ yếu căn cứ vào huy chương. Đó là một thiệt thòi cho các nghệ sĩ thế hệ đi trước. Đây cũng là một vướng mắc mà nhiều năm qua, đợt xét tặng danh hiệu NSƯT, NSND nào cũng khiến các nghệ sĩ chạnh lòng buồn. Ông cũng vậy, khi tôi hỏi ông về việc làm hồ sơ xét tặng danh hiệu NSND, ông bảo, ông đã dành cả cuộc đời làm việc, ông không thể tự mình đi xin danh hiệu.

Sau này, con trai ông, NSND Tạ Duy Ánh cũng theo nghiệp bố làm xiếc. Nhưng ông luôn khuyên con tỉnh táo đi bằng hai chân, vừa làm nghệ thuật vừa làm kinh tế để nuôi sống gia đình và phát triển nghề. Giờ con trai ông là Giám đốc Liên đoàn xiếc Việt Nam. 

Ông tự hào vì hiếm có gia đình nào ở Việt Nam có 3 đời làm xiếc như dòng họ Tạ nhà ông. Xiếc có những ngắt quãng và thời thế cũng đã nhiều thay đổi. Chỉ có những tình yêu như thế hệ ông có lẽ không bao giờ thay đổi.

Bảo Linh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.