NSƯT Quang Lý : Một nghệ sĩ chân chính

Tôi nhớ mãi lần đầu tiên tiếp xúc, anh đã để lại một ấn tượng thật đặc biệt khiến không bao giờ có thể quên. 

Có nhiều nghệ sỹ tài năng được công chúng ghi nhận và mến mộ. Nhưng để gọi được là chân chính thì không nhiều. Từ "chân chính" cần được đi liền với một nhân cách, phẩm chất đạo đức, tinh thần phục vụ công chúng vô điều kiện, quan niệm về nghệ thuật chuẩn mực. Nghệ sỹ được coi là chân chính phải được công chúng ngưỡng mộ, nể phục không chỉ ở tài năng nghệ thuật mà còn ở sức thuyết phục lớn về nhân cách, lối sống. Một ai đó có thể hát rất hay, diễn rất giỏi hoặc sáng tác nhiều tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao nhưng cuộc sống đời thường tai tiếng thì dĩ nhiên không thể là chân chính.

Trong bài viết này, tôi muốn nhắc tới NSƯT Quang Lý (1949 -2016). Lúc sống, ông được tất thảy công chúng mến mộ bởi sở hữu một giọng hát hay, âm sắc đẹp, lại hát hết mình, luôn cháy lên với mỗi bài thể hiện. Phút qua đời (9h30 ngày 1-12-2016), đám tang đưa tiễn ông về cõi vĩnh hằng là một trong những trường hợp nghệ sỹ ra đi nhận được quá nhiều sự thương tiếc của đông đảo mọi người từ các tầng lớp công chúng đến giới nghệ sỹ.

Chẳng những chỉ các ca sỹ, nhạc sỹ đến thăm viếng mà nhiều nghệ sỹ sân khấu, điện ảnh cũng có mặt. Nhiều bè bạn văn nghệ đã khóc bên linh cữu ông và thốt lên: "Thật khó có một Quang Lý thứ hai trong giới ca sỹ". Những người dân bình thường yêu âm nhạc thì nhắc đến những bài hát hay qua sự thể hiện của Quang Lý đã "đóng đinh" được vào tâm khảm họ như  "Thuyền và biển", "Thơ tình cuối mùa đông" (nhạc Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ Xuân Quỳnh), "Tạm biệt chim én", "Sao em nỡ vội lấy chồng" (Trần Tiến), "Điều giản dị" (Phú Quang), "Chiều trên bến cảng" (Nguyễn Đức Toàn)…

Giờ đây, mỗi lần đặt chân đến Hải Phòng là tôi lại bồi hồi nhớ đến Quang Lý. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên tiếp xúc, anh đã để lại một ấn tượng thật đặc biệt khiến không bao giờ có thể quên. Đó là mùa hè năm 1980. Khi ấy tôi đang là bạn thân của cố nhạc sỹ Vũ Ngọc Quang. Anh Quang lúc này cùng làm việc với Lý ở Đoàn Ca múa Hải Phòng.

Được biết Đoàn hay có những cuộc ra các đảo biểu diễn phục vụ bộ đội hải quân, lại nghĩ Vũ Ngọc Quang là nhạc sỹ đã có chút tên tuổi, là thành viên Hội đồng nghệ thuật của Đoàn, tôi bèn đưa anh ca khúc "Có anh ở đảo" của mình với hy vọng được Đoàn sử dụng. Anh cho biết cần có ca sỹ trong đoàn nhận hát mới được.

Rồi anh nói sẽ giới thiệu tôi gặp Hữu Lý (là tên khi Quang Lý còn ở Đoàn Ca múa Hải Phòng). Lúc ấy, tôi chưa nghe tên Hữu Lý. Nhưng Vũ Ngọc Quang nói Lý hát hay, được công chúng Hải Phòng, đặc biệt là bộ đội hải quân thích. Rồi anh dẫn tôi đến gặp Lý. Đó là một người ít hơn tôi mấy tuổi, khổ người tầm thước, gương mặt dễ thương với nụ cười tươi, hiền hậu, để lộ hàm răng đều tăm tắp.

Gặp vậy thôi chứ tôi không hy vọng được việc. Nhưng Hữu Lý đã rất nhiệt tình, đầy ý thức trách nhiệm khi tiếp nhận tác phẩm của tôi. Anh cầm văn bản âm ư xướng âm và hát luôn mấy câu đầu tiên, tôi thấy khá chính xác. Hữu Lý nói: "Anh yên tâm. Em sẽ hát bài này".

Lý nói câu ấy gây cho tôi niềm tin chứ không nghĩ anh đãi bôi, xã giao, "không mất gì" nên hứa "đại" cho được lòng đối tượng như tôi vẫn gặp phải ở nhiều người. Thời gian này, do có chuyện riêng tư nên hầu như tuần nào tôi cũng có mặt ở Hải Phòng một lần. Nhưng tôi chỉ tìm gặp Vũ Ngọc Quang mà rất ngại gặp Lý vì sợ anh nghĩ mình có ý giục chuyện bài hát. Nhưng anh Quang cho biết bài hát đã được thông qua và Lý đang miệt mài tập, Quang phối khí, chỉ huy.

Tôi rất vui, đang định tìm gặp Lý để cảm ơn thì ca sỹ đã chủ động tìm đến tôi trước để hỏi thêm về ca khúc, giúp anh thể hiện tốt nhất. Tôi thực sự cảm kích và trân trọng tinh thần đó của anh. Quả là tôi chưa gặp được nhiều những ca sỹ sẵn sàng làm việc như thế. Thường thì họ không có nhu cầu phải gặp tác giả làm gì. Nếu tác giả có ý định muốn tập cùng ca sỹ thì họ sẽ tìm cách né tránh vì cho rằng phiền hà, mất thời gian. Nhất là khi ấy, tôi chỉ là một tác giả trẻ, mới có dăm ba bài hát được phát trên Đài phát thanh, không có lý do gì khiến ca sỹ phải…nể.

Cử chỉ của Hữu Lý cho tôi nghĩ anh là một diễn viên rất nghiêm túc, cầu thị trong công việc và rất tôn trọng tác giả cho dù họ có là ai, nổi tiếng hay chưa, "tầm cỡ" hay không. Sau đó ít ngày, Lý tìm cách gọi điện lên cơ quan cho tôi báo ngày về Đoàn để dự buổi tổng duyệt chương trình mới có bài của tôi (ngày ấy, chưa có điện thoại tại nhà, càng không điện thoại di động như bây giờ). Nhưng tôi mắc việc không thể về. Anh đã ghi âm bài hát gửi cho tôi nghe.

Tôi hoàn toàn vừa ý phần thể hiện của anh. Đến khi tôi lĩnh tiền thù lao tác phẩm, có ý tặng lại anh chút xíu để "uống nước". Nhưng tôi nói thế nào anh cũng kiên quyết không nhận. Vũ Ngọc Quang - với tư cách đàn anh, người thầy của Lý - nói thêm, anh vẫn khăng khăng không đổi ý. Tôi mời nhạc sỹ và Lý đi liên hoan một chầu thì anh cũng từ chối nốt với lý do "Em có việc nhà đột xuất. Mong hai anh thông cảm và cứ tự nhiên vui vẻ".

Quang nói với tôi: "Tính Lý nó như thế. Sẵn sàng giúp người khác hết mình, vô điều kiện, nhưng rất ngại nhận sự trả ơn. Ở đoàn, ai cũng quý cậu ấy. Tác giả nào cũng muốn trao bài vào tay Lý vì yên tâm. Nó hát thì luôn nâng thêm hiệu quả của tác phẩm".

Vẫn nhạc sỹ Vũ Ngọc Quang kể: Nhiều lần nhạc sỹ mời ca sỹ đi báo cáo tác phẩm cho mình (tức là đi hát ca khúc mới sáng tác theo lời mời của các nơi). Lý luôn học thuộc lòng lời mà không cầm giấy khi hát như các ca sỹ khác. Việc này rất mất thời gian vì là sáng tác mới. Sau những cuộc như vậy, nhạc sỹ Quang thường tặng thêm thù lao cho ca sỹ từ tiền túi của mình. Nhưng Lý không bao giờ nhận, nói là cơ sở đã trả công cho anh rồi. Trong khi đó thì có ca sỹ khác đã nói thẳng với tác giả: "Anh nói họ trả gấp đôi như thế. Trả như vậy thì lần sau xin anh đừng gọi em". Nhạc sỹ lại rút tiền riêng trả thêm. Họ nhận nhưng vẫn chê ít.

Cố NSƯT Quang Lý và vợ.
Cố NSƯT Quang Lý và vợ.

Năm 1982, Hữu Lý vẫn còn ở Hải Phòng. Một lần anh lên Hà Nội có ghé đến cơ quan chơi với tôi. Anh nói có việc còn ở Hà Nội vài ngày. May quá, lúc đó tôi được một trại điều dưỡng thương bệnh binh mời đến nói chuyện về âm nhạc, cần ca sỹ hát minh họa. Trước đó, tôi có mời một nữ ca sỹ trẻ khi ấy rất nổi tiếng, đang "hot". Nhưng cô ta "quát" "cát-xê" trên trời mặc dù tôi nói rõ là đến phục vụ một nơi toàn thương, bệnh binh. Tôi mời Hữu Lý. Anh vui vẻ nhận lời, không hỏi mức thù lao mà chỉ hỏi rõ đối tượng phục vụ là những ai.

Sau khi nghe tôi nói rõ, anh có thoáng băn khoăn về tiết mục. Tôi nói anh có thể hát bất cứ bài gì "tủ" (vì biết rõ sở trường của anh là hát nhạc trữ tình cách mạng, tức "nhạc đỏ"). Nhưng anh nói: "Phải hát bài hay về đề tài thương binh. Em sẽ hát hai bài. Một là "Vết chân tròn trên cát" của Trần Tiến. Bài này em đã thuộc. Và sẽ tập thêm bài "Hương tràm" của Thuận Yến. Bài này em chỉ biết, chưa thuộc lời".

Tôi nói chỉ còn một ngày, liệu có kịp? Lý tỏ rõ sự quyết tâm. Và lúc hát, anh đã thể hiện rất trôi chảy, cứ như bài "tủ" của mình vậy. Trước lúc ra về, thấy tôi không nhận tiền thù lao (vì là chỗ ân nghĩa với nơi mời), Lý cũng không nhận. Tôi nói anh cứ nhận tự nhiên thì Lý nói: "Với em, phục vụ thương binh là niềm hân hạnh, sao nỡ nhận tiền?". Tôi thực sự nể cử chỉ này của Lý, mới thấy cô ca sỹ nổi tiếng kia khi yêu cầu một cơ sở thương binh phải trả tiền mình hậu hĩnh mới hát thật vô duyên làm sao!

Năm 1983, Hữu Lý chuyển vào cư trú ở TP Hồ Chí Minh. Nghe nói anh đầu quân cho Đoàn Ca nhạc Tháng Tám. Bẵng đi nhiều thập niên, tôi không có dịp gặp lại anh. Mãi tới sau này, theo dõi trên tivi thấy anh có chân trong Hội đồng nghệ thuật chương trình "Sao Mai - điểm hẹn", nhưng được giới thiệu là nghệ sĩ Quang Lý.

Tôi định bụng nếu vào Sài Gòn sẽ thăm lại anh và hỏi đầu đuôi ra sao mà từ cái tên Hữu Lý hồi còn ở Ca múa Hải Phòng lại đổi thành Quang Lý? Nhưng rồi sau đó, một số lần gặp lại anh, khi thì xem anh hát trên sân khấu, lúc thấy anh đi bộ (thể thao) ở vườn hoa 23/9 tại Sài Gòn mỗi buổi sáng, chuyện trò líu tíu rồi quên khuấy. Cho đến ngày anh đột ngột ra đi, việc này vẫn còn là sự tò mò của tôi, chưa được "giải mã".

Ngoài biểu diễn, Quang Lý còn tham gia dạy thanh nhạc ở Nhạc viện thành phố. Anh có nhiều học trò. Ai cũng ngưỡng mộ anh bởi giọng hát quý hiếm, giàu sức thuyết phục và sự tận tụy hết mình với học trò. Anh là một nghệ sỹ tài đức song toàn.

Ở mọi tư cách: Làm chồng, làm cha, làm nghệ sỹ, làm thầy giáo, làm bè bạn… anh đều nêu gương sáng về sự mẫu mực, chỉn chu, nhân hậu, luôn có trách nhiệm cao nhất, sống chân thành, vị tha, nhân ái và rất khiêm nhường, biết mình, biết người, không bao mắc những thói tật giới nghệ sỹ dễ mắc. Anh đích thực là một nghệ sỹ chân chính, để lại sự tiếc nuối khôn xiết cho tất thảy mọi người khi ra đi quá đột ngột giữa lúc sức sáng tạo vẫn còn sung mãn.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.