NSƯT Kiều Hưng: Một cánh chim phiêu dạt

Theo thông tin từ gia đình, NSƯT Kiều Hưng đã qua đời hôm 30/10 tại Bệnh viện Vivantes Friedrichshain, Berlin (Đức) ở tuổi 88, sau một thời gian ngắn nhập viện vì tình trạng sức khỏe suy giảm. NSƯT Kiều Hưng là một giọng ca được coi là huyền thoại trong thập niên 1970, 1980 của thế kỷ trước, được đông đảo khán thính giả cả nước yêu thích.

Theo chia sẻ của nghệ sĩ Kiều Hải - con trai của NSƯT Kiều Hưng - ông đã ra đi thanh thản trong vòng tay của người thân. Gia đình sẽ tổ chức tang lễ tại Đức, sau đó di hài ông sẽ được hỏa táng và đưa tro cốt về Việt Nam đúng như tâm nguyện tha thiết của ông lúc sinh thời. Nghệ sĩ Kiều Hải cho biết, ngày cuối cùng trong cuộc đời mình, khi vẫn còn tỉnh táo, người cha của anh vẫn tiếp tục nói với con trai mong muốn được về nằm lại trong lòng đất mẹ Việt Nam sau khi rời xa cõi đời.

1.jpg -0
NSƯT Kiều Hưng thời trẻ.

Trong một số lần trở về Việt Nam trước đó, ông từng nhiều lần chia sẻ về ước muốn được về ở hẳn tại quê nhà. Nhưng, cuối cùng, như một định mệnh, ông đã từ biệt cõi đời ở nơi xa xứ, khép lại một cuộc đời đã lấy âm nhạc làm lẽ sống, với nhiều vinh quang và cả những thăng trầm, cay đắng...

Nhắc đến NSƯT Kiều Hưng, chắc hẳn nhiều người còn nhớ rõ ký ức về một “giọng hát vàng” trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam khi radio vẫn là phương tiện truyền tải tác phẩm âm nhạc chủ đạo ở nước ta. Đó là giọng hát của một nghệ sĩ tài hoa một thuở, giọng hát từng được gọi là một huyền thoại, ghi dấu ấn không thể phai nhòa với lứa khán giả sinh ra và lớn lên trước những năm 1990 bởi sự da diết, nồng nàn và sâu lắng.

Tên tuổi Kiều Hưng gắn với những bài hát đi cùng năm tháng như “Hồ Chí Minh, đẹp nhất tên Người”, “Bài ca trên núi”, “Trước ngày hội bắn”, “Chiếc khăn piêu”, “Rặng trâm bầu”, “Tình ca”, “Du kích sông Thao”, “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Về thăm mẹ”, “Tiếng đàn bầu”, “Tình em cây lúa”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”... Thế nhưng, cũng ít người biết được rằng, con đường ông đến với âm nhạc cũng khá “chông gai” trước khi trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng được nhiều người yêu mến.

NSƯT Kiều Hưng sinh năm 1937 ở Phú Xuyên (ngoại thành Hà Nội) với tên thật là Kiều Tất Hưng. Ông có đam mê âm nhạc từ nhỏ và thể hiện quyết tâm thực hiện ước mơ trở thành ca sĩ. Ông từng thi vào Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) nhưng không đỗ, từng đi học nghề thợ may, sau đó được nhận vào Dàn hợp xướng của Đoàn Ca múa nhân dân Trung ương (cũ) vừa học nghề vừa kiêm thêm nhiệm vụ hậu đài, lo chuẩn bị trang phục, đạo cụ cho diễn viên.

Sau 6 năm hát trong Dàn hợp xướng, năm 1961, ông được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương giao cho thể hiện bài hát “Bài ca trên núi” cho bộ phim “Vợ chồng A Phủ” vốn trước đó được giao cho nghệ sĩ Vũ Chất. Khi đó, nhạc phẩm đã tạo được dấu ấn mạnh mẽ, có sức sống độc lập, để sau đó đưa tên tuổi Kiều Hưng trở thành một trong những ca sĩ hát đơn ca thành công nhất của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam.

Không chỉ có giọng hát thiên phú, ông còn có khả năng sáng tác âm nhạc. Ông từng viết thêm lời cho bài hát “Bài ca trên núi” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, nhưng khi được đề nghị để tên chung, ông đã từ chối. Mấy chục năm sống xa quê, ông đã sáng tác được hơn 30 bài hát, trong đó có những bài trở nên khá phổ biến như bài “Nhớ quê”, “Tiếng ru”, “Lá quê hương”... thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim tha thiết với quê hương xứ sở.

Nghệ sĩ Kiều Hưng từng ngậm ngùi tâm sự: “Riêng bài “Nhớ quê”, hầu như trong bất kỳ buổi biểu diễn nào cho bà con Việt kiều ở nước ngoài tôi cũng hát. Bài hát ấy như nói thay lòng tôi. Tôi muốn nói rằng, dù ở đâu, làm gì, lòng tôi cũng luôn hướng về đất mẹ và tha thiết mong ngày trở lại. Khi tôi hát xong, cũng có những người Việt xa xứ như tôi chạy lên ôm tôi và khóc...”.

Từ năm 1995, sau một sự cố bất đắc dĩ, NSƯT Kiều Hưng đã xin tị nạn tại Đức và bắt đầu những năm tháng sống xa quê hương từ đó. Làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam vắng bặt giọng hát Kiều Hưng, mà đa số thính giả đều không hiểu vì sao, chỉ một số ít bạn bè, đồng nghiệp là biết chuyện. Khi đó, ông đã bước qua con dốc bên kia của cuộc đời, nên có nhiều chuyện cũng chẳng còn muốn thanh minh, giải thích gì, mà đành để cho “con tạo xoay vần”.

Những năm tháng cuối đời, khi sức khỏe còn cho phép, ông có một số lần trở về Việt Nam và đón Tết tại quê nhà. Hồi cuối năm 2011, tôi có may mắn được trò chuyện với NSƯT Kiều Hưng và vợ ông - bà Việt Bắc - tại nhà riêng, trong chuyến ông bà trở về Việt Nam để chuẩn bị đón Tết Nhâm Thìn. Đó cũng chính là chuyến hồi hương lần thứ 3 của ông.

Hồi đó, ông 74 tuổi, tuy đã trải qua bạo bệnh và đang được điều trị tích cực để bình phục, với mong muốn sẽ lại được tiếp tục hát trên sân khấu. Vợ chồng ông đã mua một căn nhà ở phố Hào Nam để chuẩn bị cho ước nguyện những năm tháng cuối đời sẽ về hẳn Việt Nam. Với sự nhẹ nhàng, trầm tĩnh, kiệm lời của một người từng trải qua nhiều biến cố và những khúc quanh của số phận, ông vẫn giữ được gương mặt và nụ cười hiền hậu vốn đã ghi dấu trong lòng bạn bè và khán giả.

2.jpg -1
NSƯT Kiều Hưng và người vợ đã theo ông suốt cuộc đời phiêu dạt.

Tôi vẫn còn nhớ rõ không khí của buổi chiều mùa đông Hà Nội năm ấy, với tâm tư sâu nặng mà ông chia sẻ nhiều nhất đó là nỗi niềm mong muốn “Lá rụng về cội”. Và, đó không chỉ là tâm tư của nghệ sĩ Kiều Hưng, mà là tâm tư của rất nhiều người con xa xứ.

Lần đó, ông ở lại Việt Nam 3 tháng, vừa để chữa bệnh bằng phương pháp Đông y kết hợp với xoa bóp, bấm huyệt của các bác sĩ ở Bệnh viện Y học dân tộc Quân đội. Sau là để đón một cái Tết hương vị quê nhà đầu tiên sau 20 năm kể từ ngày ra đi và tham gia một số chương trình biểu diễn theo lời mời.

Hồi đó, ông đã tâm sự với tôi những lời rất chân thật từ tận đáy lòng của một người con lưu lạc đã trải qua đủ cung bậc cay đắng ngọt bùi nơi viễn xứ rằng: “Trong tâm khảm, tôi luôn muốn được sống nốt phần đời còn lại ở quê nhà - nơi tôi được sinh ra, lớn lên, tỏa sáng trên con đường nghệ thuật, nơi là tất cả phần đời trai trẻ đẹp đẽ không thể nào quên của tôi. Quê nhà với tôi là chốn thật bình yên...”.

Trong buổi chiều mùa đông ấy, những người thân, bạn bè của nghệ sĩ Kiều Hưng nhắc nhiều đến hai từ “số phận”. Là cái số của Kiều Hưng nó thế, long đong lận đận từ thời trẻ, đến tuổi trung niên, người ta thường đã an ổn, thì ông lại phiêu bạt xứ người và cũng có những ngày tháng thật buồn.

Nhưng, có một điều đặc biệt là, ngay cả khi phải làm nhiều nghề để kiếm sống, nghệ sĩ Kiều Hưng dường như chưa bao giờ ngừng hát. Ông hát ở bất cứ nơi đâu, trong nhà máy nơi ông làm việc, hội sở, quán ăn, nhà hàng và sẵn sàng hát không cần cát-xê. Chỉ cần được hát mà thôi. Hát cho thỏa lòng, cho vơi đi nỗi nhớ nghề, nhớ quê hương. Điều này thì những người thân của ông như mẹ, vợ, con đều hiểu rất rõ, bởi vì trong quan sát của họ, khi thiếu vắng âm nhạc dường như ông trở nên bối rối đến độ chẳng biết làm gì.

Nghệ sĩ Kiều Hưng cũng quan niệm rằng, trời cho mình tiếng hát, mình phải hát phục vụ mọi người. Ông thường tâm sự với người thân rằng: “Đời người ca sĩ như con chim họa mi. Khi chim họa mi ngừng tiếng hót, có nghĩa là nó đã chết...”. Có lẽ, bởi thế mà trong trái tim nghệ sĩ Kiều Hưng, tiếng hát chưa bao giờ ngừng nghỉ.

Con trai ông kể rằng, trong những giờ phút cuối đời, gia đình đã bật những băng ghi âm tiếng hát Kiều Hưng một thuở để xoa dịu trái tim ông và khiến ông vơi bớt nỗi nhớ quê nhà. Có lẽ, chính những bài hát ấy, trong suốt những năm qua đã nâng đỡ tinh thần ông, vực ông dậy trước những khó khăn và nỗi buồn thương của một cánh chim phiêu bạt nơi đất khách. Giờ đây, cánh chim ấy đã có thể phiêu diêu trở về quê nhà, nằm lại bình yên trong lòng đất mẹ, trong lòng quê hương Việt Nam - nơi trái tim ông chưa một ngày thôi mong nhớ...

Nguyệt Hà

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.