NSND Ngô Mạnh Lân: Một đời gắn bó với tuổi thơ

Họa sĩ Ngô Mạnh Lân yêu sự hồn nhiên, ngộ nghĩnh ở con trẻ và một điều luôn nhắc nhở ông khi sáng tác cho đối tượng này là phải gần gũi, chân thực.  Cũng dễ hiểu khi thấy ông cả đời công tác tại Xưởng phim Hoạt họa chuyên làm phim cho thiếu nhi...

Năm 1950, chàng thiếu niên 16 tuổi Ngô Mạnh Lân hăm hở vượt suối, băng rừng từ Ty Thông tin Phú Thọ đến Đại Từ, Thái Nguyên, địa điểm thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật. Trước đó, năm 1949, ông được cơ quan cử tham gia một lớp học cấp tốc trong hai tháng, hướng dẫn cán bộ thông tin kẻ vẽ khẩu hiệu do họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp hướng dẫn, phục vụ cho công tác tuyên truyền thông tin lúc đó.

Là người trẻ tuổi nhất lớp nhưng Ngô Mạnh Lân thường được danh họa Tô Ngọc Vân và nhiều thầy giáo khác khen ngợi về sự chuẩn mực và chỉn chu trong từng nét vẽ.

Đến bây giờ, ở tuổi 85, họa sĩ Ngô Mạnh Lân vẫn nhớ như in những gì thầy Vân đã dạy: "Nói về cách điệu, anh nêu những thí dụ nhỏ, dễ hiểu để chứng minh: giản đơn không có nghĩa là tước bỏ. Khi vẽ một anh bộ đội, ở mặt mũi, quần áo ta đã đơn giản bớt những nét thừa, nhưng cũng rất gần với sự thật, đến khi vẽ chiếc áo trấn thủ ta lại gạch những nét thẳng tắp như ổ quả trám đều đặn, như vậy sẽ không ăn khớp với cái chung, như thể vẽ hàng rào gắn vào người! Ngay những chi tiết nhỏ trong vẽ trang trí cũng được anh giảng giải cẩn thận với nhận xét sâu".

NSND Ngô Mạnh Lân (hàng đầu, thứ 2 từ phải qua) cùng phu nhân - NSND Ngọc Lan - và các thành viên trong gia đình.
NSND Ngô Mạnh Lân (hàng đầu, thứ 2 từ phải qua) cùng phu nhân - NSND Ngọc Lan - và các thành viên trong gia đình.

Khóa học ba năm (1950-1953) trong điều kiện kháng chiến thật thiếu thốn nhưng những kiến thức mỹ thuật cơ bản do những người thầy của khóa học này truyền lại cho các học viên thật sâu sắc, thật cơ bản. Những kiến thức ấy đã được các học viên mang theo suốt cuộc đời làm nghệ thuật của họ như một hành trang không thể thiếu, trong đó có họa sĩ Ngô Mạnh Lân.

Năm 1954 - sau khi hòa bình lập lại, ông được Nhà nước cử sang học tập tại Liên Xô (cũ). Ngô Mạnh Lân là một trong những sinh viên Việt Nam đầu tiên theo học tại Trường Đại học Điện ảnh quốc gia Liên Xô (VGIK) - Khoa Họa sĩ - Đạo  diễn phim hoạt hình. Cuộc đời nghệ thuật của ông từ đó đã chuyển sang một ngã rẽ nhỏ - phim hoạt hình.

Với họa sĩ Ngô Mạnh Lân, phim hoạt hình như một thứ tình yêu cứ ngấm dần, ngấm dần rồi làm ông mê mẩn lúc nào không hay. Giờ đây, nhìn lại sự nghiệp làm phim hoạt hình, ông đã có gần 20 phim với đủ thể loại từ hoạt họa, cắt giấy đến búp bê và được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế.

Năm 1962, Ngô Mạnh Lân trở về nước với tấm bằng đỏ và được phân công về Xưởng phim Hoạt họa búp bê Việt Nam (nay là Hãng phim Hoạt hình Việt Nam). Lúc này, ngành hoạt hình của Việt Nam đang còn chập chững, mới chỉ có vài bộ phim ngắn ra đời như bộ phim "Đáng đời thằng cáo" (1960) bằng thể loại phim vẽ, rồi đến bộ phim cắt giấy "Con một nhà" (1961 - đạo diễn Trương Qua) và phim búp bê "Chú thỏ đi học" (1962 - đạo diễn Nguyễn Tích). Trong bối cảnh còn bỡ ngỡ, thô sơ như vậy, họa sĩ Ngô Mạnh Lân bắt đầu sự nghiệp làm phim hoạt hình của mình bằng bộ phim vẽ  "Một ước mơ".

Một trong những bộ phim đầu tay nhưng đã khẳng định tài năng, phong cách làm phim ấm áp, dung dị mà không kém phần hấp dẫn của Ngô Mạnh Lân là "Mèo con" (dựa theo truyện ngắn "Cái Tết của mèo con" của nhà văn Nguyễn Đình Thi).

Bộ phim được Ủy ban Văn hóa đối ngoại gửi đi tham dự Liên hoan phim Mamamia năm 1966 và giành giải Bồ nông Bạc trong sự bất ngờ, ngỡ ngàng của chính tác giả. "Mèo con" đã trở thành đại diện đầu tiên của hoạt hình Việt Nam hiện diện và giành thắng lợi tại Liên hoan phim Quốc tế.

Một tác phẩm nữa đánh dấu sự nghiệp đạo diễn phim hoạt hình của NSND Ngô Mạnh Lân là "Chuyện ông Gióng". "Chuyện ông Gióng" là bộ phim "ngốn" nhiều thời gian, công sức nhất của ông và toàn bộ nhóm làm phim. Được giao làm từ năm 1964 nhưng đến năm 1969, bộ phim mới bắt đầu được thực hiện.

NSND Ngô Mạnh Lân vẫn nhớ: "Sau khi nghiên cứu các di tích ở làng Phù Đổng, anh em theo vết chân ngựa Gióng đi qua làng Cháy, làng Hà Lỗ, rồi qua Đông  Anh, Đa Phúc, Kim Anh tìm những ao chuôm rải rác trên các cánh đồng với những khóm tre đằng ngà lơ thơ trên bờ - ấy là vết chân ngựa Gióng. Anh em đến núi Sóc, nơi Gióng ghìm ngựa dừng chân ngắm cảnh quê hương, cởi bộ áo giáp để lại rồi phi thẳng lên Trời…

Từ đỉnh Sóc Sơn nhìn ra phong cảnh thật đẹp: những ngọn đồi thoai thoải xen vào nhau chạy tới chân rặng núi mầu lơ hơi mờ mờ phía chân trời… Bỗng nhiên tiếng máy bay phản lực của không quân ta cất cánh phóng thẳng lên bầu trời xanh để lại những vệt mầu lấp lánh ánh bạc làm chúng tôi tưởng như được chứng kiến Gióng đang bay lên trời cao…".

Chưa bao giờ đoàn làm phim phải thực hiện một lượng búp bê và bối cảnh nhiều đến như thế: hơn 100 con rối, hơn 10 bối cảnh lớn, rồi công đoạn nhuộm vải lụa may trang phục, vẽ mặt, sơn màu cho nhân vật. Con ngựa sắt đẽo bằng gỗ phải làm đi làm lại nhiều lần.

Một yếu tố quyết định chất lượng phim là động tác nhân vật phải tỉ mỉ, chính xác. Cứ chụp mỗi hình xong lại phải uốn tay chân con rối nhích lên một chút để tạo thành chuyển động. Để có một phút chiếu trên màn ảnh, các nghệ sĩ phải quay chụp ngót 1.500 lần. Kết quả của những tháng ngày vất vả ấy là sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả và giải thưởng Bồ câu Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Leipzik (CHDC Đức).

Khi được hỏi về cái duyên với hoạt hình cho trẻ con, NSND Ngô Mạnh Lân tâm sự: "Chuyên ngành hoạt hình đòi hỏi phải có óc tưởng tượng dồi dào trong xây dựng hình tượng nhân vật, bối cảnh và kỹ năng thể hiện kiểu đồ họa. Khi bước vào nghề rồi gắn bó với nghề tôi hiểu rằng, đồ họa cho thiếu nhi phù hợp với tạng của mình. Hồi mấy cô con gái tôi còn nhỏ, mỗi lần nhìn tranh bố vẽ chúng cười thích thú, làm tôi vui lắm. 

Năm 1968, khi phim hoạt hình "Những chiếc áo ấm" của tôi ra rạp, đọc những dòng cảm tưởng của các em nhỏ về tình cảm bạn bè gắn bó trên Báo Màn ảnh Hà Nội, tôi thấy xúc động vô cùng... Đó chính là động lực cho tôi tiếp tục sáng tạo".

Có những người nói họa sĩ Ngô Mạnh Lân gặp nhiều may mắn và thành đạt trong cuộc đời và sự nghiệp, điều này có phần đúng bởi ông đã có tất cả những danh hiệu cao quý nhất dành cho một người hoạt động nghệ thuật - NSND.

Trong nghiên cứu, giảng dạy ông được phong Phó Giáo sư và được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhưng sự nghiệp của ông không phải chỉ là may mắn. Nhìn toàn bộ sự nghiệp của ông, người ta mới thấy được ông thành công ngoài tài năng, còn là sự chăm chỉ, cần mẫn, khắt khe trong lao động nghệ thuật.

Ông không nề hà, kén chọn trong lao động nghệ thuật. Nghệ thuật đối với ông bất kể là làm phim, vẽ tranh cổ động, minh họa sách báo đều phải nghiêm túc và chăm chỉ. Việc ông là một cộng tác viên chỉn chu, tin cậy cho nhiều nhà xuất bản, các báo đã cho thấy điều đó và  ngay cả việc minh họa sách báo - một việc mà nhiều người cho là chỉ để "kiếm cơm" - cũng  đã trở thành một thành công của ông trong lao động nghệ thuật.

Trong kí ức tuổi thơ của nhiều người còn in dấu những minh họa tươi vui của họa sĩ Ngô Mạnh Lân trên các Báo: Thiếu niên Tiền Phong, Phụ nữ Việt Nam, Nhi đồng… những năm 1960, 1970, 1980.

Họa sĩ Ngô Mạnh Lân yêu sự hồn nhiên, ngộ nghĩnh ở con trẻ và một điều luôn nhắc nhở ông khi sáng tác cho đối tượng này là phải gần gũi, chân thực.  Cũng dễ hiểu khi thấy ông cả đời công tác tại Xưởng phim Hoạt họa chuyên làm phim cho thiếu nhi.

Những nơi ông thường cộng tác cũng vậy: Báo Thiếu niên Tiền phong, Báo Nhi Đồng, Nhà xuất bản Giáo dục, Báo Phụ nữ Việt Nam… và đặc biệt là Nhà xuất bản Kim Đồng - nơi xuất bản sách cho thiếu nhi cả nước. Với Nhà xuất bản Kim Đồng, họa sĩ Ngô Mạnh Lân cộng tác hơi muộn so với những bạn bè cùng lứa như Lê Huy Hòa, Thế Vỵ… nhưng ông nhanh chóng trở thành một cộng tác viên "ruột" của Nhà xuất bản.

Những tác phẩm truyện tranh của ông được in ở đây đã trở thành những tác phẩm đắt khách, được tái bản nhiều lần. Có thể kể như ''Dế mèn phiêu lưu ký'', ''Cây tre trăm đốt'', "Trê Cóc", "Đồng tiền Vạn Lịch", "Mụ Lường", "Sự tích núi Ngũ hành", "Đám cưới chuột"… Truyện tranh của ông mang một phong cách riêng, ngoài sự chân thành, trong sáng… còn đầy chất hóm hỉnh trong cách thể hiện. Ngôn ngữ tạo hình mang đậm chất dân gian Việt  Nam.

Cùng với các tác giả Tạ Thúc Bình, Nguyễn Bích, Mai Long… họa sĩ Ngô mạnh Lân đã tạo nên một phong cách truyện tranh Việt mới với các tác phẩm được xuất bản tại Nhà xuất bản Kim Đồng, phong cách thể hiện giản dị, trong sáng và thuần Việt.

Nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam đã được thưởng thức những tác phẩm của họa sĩ Ngô Mạnh Lân. Và chính những độc giả nhí ấy đã mang lại cho ông nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận.

Ở tuổi 85, họa sĩ Ngô Mạnh Lân vẫn lao động nghệ thuật, ông vẫn làm sách, vẫn viết nghiên cứu, vẫn vẽ trong ngôi nhà xinh xắn của mình ở làng Ngọc Hà. Nhà biên kịch Trần Ngọc Thanh - người đã từng song hành với họa sĩ Ngô Mạnh Lân trong nhiều bộ phim hoạt họa đã viết về người đồng nghiệp thân thiết của mình cách đây cả vài chục năm  nhưng giờ vẫn chính xác: "Như một người nông dân cần mẫn lao động trên vạt ruộng của mình, hằng ngày Ngô Mạnh Lân vẫn say sưa với những hình vẽ, những bảng màu không chỉ trong lĩnh vực phim hoạt hình, mà còn cả trong lĩnh vực đồ họa và anh đã gặt hái được những thành công không nhỏ trên lĩnh vực điện ảnh".

Tô Chiêm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.