NSND Lê Dung 15 năm ngày chia xa...

Còn nhớ, mùa đông năm ấy, Lê Dung đến chỗ tôi (Báo Tuổi trẻ Thủ đô) ở 19 Phan Chu Trinh, ào như một cơn lốc, ríu rít: “Chị ơi, đi cà phê với em, có chuyện này em muốn kể với chị ngay…”. Tôi buông bút nhìn, Lê Dung mặc đẹp quá, áo khoác dạ màu vàng mơ, khăn quàng cát-sơ-mia hoa cùng gam màu, váy đen dài (mode thời trang Pháp hồi bấy giờ, rất đáng ao ước ở Việt Nam). Tôi và Dung sang quán cà phê đối diện. Lúc đó quán này là địa chỉ được rất nhiều nghệ sĩ chọn để ghé ngồi. 

Dung kéo tôi đến một bàn, có một người đang ngồi, chưa kịp ngạc nhiên thì tôi nhận ra đó là một nhà thơ trẻ, trẻ hơn chúng tôi khoảng 1 con giáp. Tôi hiểu ngay "tình thế". Trước hết vì tôi thấy Dung rất hớn hở, rất vui, và đẹp rực rỡ, hơn lên rất nhiều so với lần gặp trước. Dĩ nhiên Dung biết tôi cũng biết nhà thơ kia nên không giới thiệu.

Sau khi gọi đồ uống, Dung đưa cho tôi một gói quà: một số mỹ phẩm và chiếc khăn lụa, tất cả đều mua ở Paris, nơi Dung vừa đi lưu diễn. Tôi cảm động về sự hồ hởi của Dung đối với tôi. Ngày đó, đấy là món quà rất có giá trị. Trong câu chuyện, Dung không kể nhiều về chuyến lưu diễn, mà khá huyên thuyên về mọi chuyện trên đời, về thơ, về tiểu thuyết, về sách.

Điều đó càng chứng tỏ Dung đang yêu, và đang rất hạnh phúc. Gương mặt nhà thơ trẻ cũng rạng rỡ. Họ nhìn nhau đắm đuối. Tôi hiểu, họ muốn cả thế gian này chứng kiến hạnh phúc của họ đang có (ai cũng thế thôi). Hạnh phúc cần nhân đôi, đau buồn cần sẻ nửa. Dung gọi tôi cà phê để chứng tỏ điều đó.

Tôi và Dung cùng trang lứa, nhưng trông Dung trẻ hơn rất nhiều, tôi thì già mà chúng tôi không biết tuổi nhau, nên chơi với nhau nhưng Dung vẫn gọi tôi là chị xưng em, tôi cũng tự nhiên coi mình là chị.  Tôi mê âm nhạc, cho nên tình cảm của tôi hầu như gắn nhiều với nhạc sĩ, ca sĩ, không kể là đàn ông hay đàn bà. Thời đó, không ít nghệ sĩ âm nhạc có thành tựu thanh nhạc đáng nể trọng như: Trung Kiên, Quý Dương, Thương Huyền,  Tường Vi, Trung Đức, Minh Đức, Quang Huy, Thanh Hoa, Thu Hiền, Ngọc Tân, Quang Lý… và trước đó là Trần Khánh, Quốc Hương, Tân Nhân…, tôi đều thích giọng hát của họ. Mỗi người mỗi vẻ. Nhưng cơ duyên làm bạn và thân thiết thì chỉ một vài người, trong đó có Lê Dung.

Trước khi Lê Dung có mối tình sét đánh với nhà thơ trẻ, chúng tôi hay đi với nhau, nếu tâm sự về tình yêu chỉ nói chung chung, không nói ra cụ thể một gương mặt, một tên tuổi nào. Một lần, sáu người: Nguyễn Thụy Kha, Ngọc Tân, Tuấn Phương, Lê Dung, tôi và một cô gái tóc vàng (tôi không nhớ tên) đi ăn uống với nhau, cả một ngày vẫn “loanh quanh không hết chuyện”. “Chả đâu vào đâu”, không ai bày tỏ gì, nhưng rõ ràng là chả ai muốn kết thúc. 

Thế đấy, ngày xưa mà, gặp nhau là đủ chuyện trên trời. Lê Dung là người dễ bộc lộ nhất, sôi nổi nhất, nhưng nhạy cảm nhất và dễ đau khổ nhất. Một hôm Lê Dung đưa cho tôi xem bài thơ của nhà thơ trẻ, trong đó có câu:  “Nếu hạnh phúc cho nhau/Luật trời ta cũng sửa”. Tôi nghĩ, từ nay, thế là trong số chúng tôi, Lê Dung đã không còn phải “loanh quanh” nữa rồi. Tôi thầm chúc cho bạn sống hạnh phúc. 

Dung hát hay, khỏi phải nói. Giọng hát đó không chỉ công chúng yêu thích, mà giới chuyên môn đều vị nể. Cho đến bây giờ khó ai có thể hát hay, chạm tới trái tim đông đảo khán giả  những: “Bài ca hy vọng ”, “Ru con”, “Du kích sông Thao”, “Người Hà Nội”, “Hướng về Hà Nội”, “Đàn chim Việt”, Aria Cô Sao… Một dạo, những bài Lê Dung đã hát thì những người đi sau không dám hát, bởi Lê Dung đã tạo ra một dấu ấn khó phai mờ trong lòng người nghe.

Người thích nghe Dung hát không chỉ là người Việt, tôi nhớ rất rõ những lần các Đại sứ quán mời Dung đến hát ở những cuộc gặp gỡ giao lưu nghệ thuật. Có thể nói, giữa Lê Dung và các giọng ca hàng đầu của thế giới đến Việt Nam biểu diễn đều không có khoảng cách  như một số các ngôi sao ca nhạc bây giờ. Giọng hát của Lê Dung là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật thanh nhạc với bản sắc riêng, với sự rung động của một trái tim đa cảm và giàu trải nghiệm.

Dung rất nghiêm túc và giàu ý chí trong nghệ thuật, nhưng lại rất xởi lởi, yếu mềm trong đời sống tình cảm. Sau một thời gian, như một ngọn nến hạnh phúc cháy quá sáng, Lê Dung rơi vào tình trạng hụt hẫng của màu xám, mất thăng bằng. Khi cô đơn, Dung lại có chúng tôi, lại nhiều thời gian để gặp nhau hơn.

Tôi nói với Dung, bạn có rất nhiều thứ để tự hào, chỉ riêng thành công trong Recitan ở Đại sứ quán Liên Xô, hay đêm solo tại Nhà hát Lớn Hà Nội (năm 1992) với hơn 20 bài hát thuộc các dòng nhạc bác học, từ những aria trong nhạc kịch nổi tiếng “Cô Sao” của Đỗ Nhuận tới “Thiên Thai” của Văn Cao… bạn đã là người mở ra việc một ca sĩ một chương trình, khiến cho Ngọc Tân tự tin hơn trong việc mở Recitan cho riêng mình (vào năm 1994), trước đó anh cứ ngại ngùng. Bạn đã từng có nhiều niềm vui, sự cô đơn lần này có lẽ chỉ là tạm thời. Quả là như vậy.

Sau đó, ngoài những quan hệ khác, Lê Dung luôn có dịp gặp gỡ chúng tôi, gồm: Nhạc sĩ Xuân Oanh, (tác giả của: “19 Tháng Tám” , “Mùa thu”…), ca sĩ - Đại tá Bắc Việt, nhà văn Hồ Anh Thái… thường có những buổi gặp gỡ thú vị ở nhà của nhạc sĩ Xuân Oanh. Người nhạc sĩ già thường hay nấu những món mà Lê Dung thích, ông nấu rất ngon.

Bên cây đàn piano, ông đệm cho Lê Dung hoặc Bắc Việt hát. Hát ở nhà, trong một không gian với ít khán giả - là chúng tôi, nhưng Lê Dung cũng hát cháy bỏng. Đã hát là Lê Dung đắm chìm vào nghệ thuật, là hết mình. Có lẽ vì thế mà các tác giả của những tác phẩm mà Lê Dung hát đều vì nể Dung. 

Trước Tết Tân Tỵ, chúng tôi ăn tất niên ở nhà nhạc sĩ Xuân Oanh, hẹn nhau mồng 3 Tết gặp lại để ăn trưa mừng năm mới. Sáng mồng ba, lúc 8 giờ 30, nhà văn Hồ Anh Thái gọi điện cho tôi, nói Lê Dung vừa phải lên xe cấp cứu. Tôi đến Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô, thấy Dung nằm im lìm, mặt mũi vẫn hồng hào, xinh đẹp nhưng có hai ống thở gắn vào mũi. Thương quá.

Vừa mới đấy thôi, chỉ cách vài ngày. Tôi nhớ ra, hôm qua, chiều mồng 2, trời đang nắng, cái nắng bất thường của mùa xuân bỗng trở mặt, gió ào ạt, tôi đi ngoài đường bụi bay mù mịt. Sau mới biết, thời tiết như thế, những người có tiền sử bệnh huyết áp như Dung rất dễ có vấn đề. Tôi nghe chị nuôi (người ở cùng với Lê Dung) kể, buổi sáng Dung vẫn còn bảo mua xôi để ăn sáng. Ăn chưa hết gói xôi, thấy người khó chịu, Dung nhờ chị lấy viên thuốc huyết áp ngậm ở dưới lưỡi. Nhưng, sự khó chịu tăng dần và rồi, phải gọi xe chở đi. Kể từ lúc đó, Dung hoàn toàn chìm vào cơn mơ trên giường bệnh.

Người đến thăm Lê Dung trong suốt mấy ngày, từ mồng 3 đến mồng 6 Tết âm lịch đông, rất đông. Không thiếu một thứ thuốc gì. Kể cả loại quý hiếm đắt nhất cũng do bạn bè mang đến. Con trai duy nhất của Dung cũng ở Úc về với mẹ. Có những người thân, rất thân, không đến, không phải vì họ không muốn đến mà vì nỗi đau lớn quá, họ không muốn ai nhìn thấy.

Ngọc Tân đến mấy lần, rồi sốt ruột, anh rủ tôi đi gặp thày số. Nhà bà ở phố Khâm Thiên, bà là người đã từng xem số và khẳng định em bà, một nhạc sĩ có tiếng, từng bị bệnh viện kết luận chết rồi và đưa xuống nhà xác, là chưa chết. Quả thật nhạc sĩ ấy còn sống đến bây giờ.

Chúng tôi đến, xem, vì không rõ chính xác ngày sinh của Lê Dung, nên không biết phải đưa ra căn cứ nào. Bà bấm đốt ngón tay, nói đã từng gặp Lê Dung, với khuôn mặt ấy, tính cách ấy, công thành danh toại ấy thì Lê Dung sinh ngày này tháng này mệnh này, thì… rất không may, không còn hy vọng gì nữa. Chúng tôi nghe xong, bảo nhau, đừng hé lộ gì. Mọi sự để bác sĩ quyết định. Mồng 6 Tết, bác sĩ gọi con trai Dung vào thảo luận riêng. Cháu trở ra, nói với bố đẻ, với những người thân của Dung là “bác sĩ nói, mẹ bị máu tràn trong não, hiện chỉ sống thực vật, còn thở là do máy trợ thở…”.

Lễ tiễn Lê Dung nhiều nước mắt. Nhiều người nhắc đến thành công của Lê Dung trong nhiều thể loại, từ opera,nhạc tiền chiến, nhạc đỏ và cả nhạc trẻ. Dung được phong tặng Nghệ sĩ ưu tú lúc 23 tuổi và Nghệ sĩ Nhân dân lúc 40  tuổi. Tên thật là Đoàn Lê Dung, sinh ra và lớn lên ở Quảng Ninh. Bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 17 tuổi, ở Đoàn Văn công Quân khu Tả Ngạn.

Năm 1976 Lê Dung về Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị và theo học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội, tốt nghiệp hạng Thủ khoa.  Mười năm sau, vào 1986, Lê Dung theo học cao học thanh nhạc tại Nhạc viện Tchaikovsky, Nga. Dung về nước 1990, là nhệ sĩ solo của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Nhiều năm Lê Dung là giáo viên thỉnh giảng bậc cao học thanh nhạc của Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh và Trường Nghệ thuật Quân đội. Lê Dung có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền opera của Việt Nam, là ca sĩ hàng đầu của dòng nhạc cách mạng…

Giờ đây, nhiều ca sĩ thành danh, đã từng là học trò của Lê Dung, cũng như chúng tôi hay những người yêu nhạc đều còn nhớ mãi giọng hát của Lê Dung, nhớ mãi “Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc”, người cống hiến cho đời một giọng ca không thể thay thế. Chúng tôi nhớ rằng Lê Dung rất yêu hoa hồng, trong nhà Dung, ngày nào hoa hồng cũng tươi. Bài viết này như một bông hồng gửi đến Lê Dung vào mùa xuân sau 15 năm nghệ sĩ vắng bóng. 

Trần Thị Trường

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...