NSND Lan Hương: Bay qua làn nước mát

Sinh năm 1962, tuổi Nhâm Dần, vậy mà mọi người vẫn quen gọi chị là “em bé Hà Nội”. “Em bé” đấy nhiều năm nay đã lên chức bà ngoại, đến tuổi về hưu, thôi công tác ở Nhà hát Tuổi trẻ dăm năm nay, nhưng cứ rảnh là lại rong ruổi khắp các cung đường với hành trình dài bất tận, lễ Thánh, lễ Mẫu. 

Kể cũng lạ, từ lúc biết chị đến giờ, điều mà mọi người ngạc nhiên nhất là thời gian hình như để quên chị. Chị vẫn rất trẻ, từ vóc dáng, đường nét đến tính cách. Và, ở chị có điều gì rất thật, không mầu mè, cường điệu như một số diễn viên nổi tiếng khác mà ta thường thấy. Có lẽ, chính điều đó khiến cho chị trở nên quyến rũ hơn chăng?!

Chị tin vào số phận. Thi thoảng chị bảo tôi: “Hiền xem tử vi cho chị xem năm nay thế nào?”. Tôi mỉm cười nhìn chị nói: “Số chị có mà cả đời làm nghệ thuật thôi”. Giờ không còn dựng vở, tổ chức diễn ở Nhà hát Tuổi trẻ nữa, nhưng từ ngày UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tam - Tứ phủ là văn hoá phi vật thể của nhân loại, các hoạt động tín ngưỡng bảo tồn văn hoá phi vật thể của Hội đồng di sản Thăng Long, hay các tổ chức nghiên cứu di sản khác đều có chị tham dự với thành phần khách mời danh dự. Cả đời chị gắn bó với nghệ thuật biểu diễn...

Cách đây gần 30 năm, tôi biết chị trong một vở kịch của Nhà hát Tuổi trẻ, lúc đấy chị còn rất trẻ, vào vai một cô bé 20 tuổi có người yêu do Chí Trung đóng, Lê Khanh vào vai mẹ Chí Trung. Đó là vở “Bến bờ xa lắc” của đạo diễn NSƯT Xuân Huyền. Vở chỉ có năm nhân vật nhưng câu chuyện kịch rất ấn tượng. Tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp Toàn quốc năm 1994 ở Ninh Bình, các đoàn nghệ thuật trên khắp đất nước về dự, vở diễn “Bến bờ xa lắc” của Nhà hát Tuổi trẻ đoạt giải Huy chương Vàng.

Thời gian trôi, đạo diễn Xuân Huyền đã già và yếu lắm, cái khí khái của ông đồ Nghệ cũng bị tuổi tác làm cho rệu rão bớt rồi. Chí Trung mấy năm nay làm giám đốc nhà hát Tuổi trẻ.

Cả hai nghệ sĩ Lan Hương và Lê Khanh được phong danh hiệu NSND từ khi còn trẻ (Lê Khanh từ cách đây 20 năm, còn Lan Hương cách đây 15 năm), giờ thì cả hai đều đã nghỉ hưu. Lúc đấy danh hiệu NSND ít người được phong lắm chứ không nhiều như bây giờ. Anh Tú sau này cũng được phong tặng NSND vào năm 2016, và chỉ hai năm sau khi được nhận danh hiệu cao quý thì anh mất.

Nghe tin NSND Anh Tú mất quá đột ngột, chỉ sau cái ngày chị vào thăm anh chưa đầy một tuần, (lúc đấy anh không nói được nữa nhưng vẫn nhận ra mọi người), cả ngày hôm đấy, chị tắt máy, nằm vật vã trên giường. Chị viết nhật kí: “Vậy là cậu đã ra đi, chỉ còn lại mình trên cuộc đời này. Sao cậu lại ra đi sớm thế? Đột ngột thế? Khi sự nghiệp còn đang dang dở... Buồn biết mấy, Tú ơi...”.

Chị còn lo âu, cái lo đầy tính “nghệ sĩ”: “Có khi nào chị giống Tú như thế, có lẽ nào chị cũng sẽ mất như Tú không?”. Tôi vội vàng bảo: “Sao lại thế được, mỗi người có một số mệnh khác nhau mà”.

Cả bốn người bạn ấy Chí Trung, Lê Khanh, Lan Hương, Anh Tú sàn sàn bằng tuổi nhau, vào chung một khoá Nhà hát từ khi 13 tuổi, cùng học tập và tập với nhau vô số vở diễn. Nhưng, chị hợp với NSND Anh Tú nhất, và cũng thường xuyên va chạm nhau nhiều nhất vì chị và NSND Anh Tú sinh hoạt tại đoàn kịch 1 của nhà hát.

Nhiều khi chị nghĩ, chẳng ai hiểu chị bằng Anh Tú, và cũng chẳng ai hiểu Anh Tú bằng chị. Chỉ cần một ánh mắt, một câu nói, một cử chỉ họ biết cần phải làm gì. Thân nhau lắm thì cắn nhau đau, hai người đấy cũng dỗi hờn rồi lại làm lành không biết bao nhiêu bận. Mỗi lần nhớ đến NSND Anh Tú, kỉ niệm lại kéo nhau ùa về. Khí trời đất Bắc càng làm nỗi nhớ trở nên da diết hơn...

So với những bạn cùng trang lứa ở Nhà hát, chị được biết đến sớm nhất. Mới 10 tuổi đã như sao giữa bầu trời sau khi đóng bộ phim “Em bé Hà Nội”. Bối cảnh bộ phim là năm 1972, quân đội Mỹ dội bom xuống Hà Nội. Ngọc Hà, một em bé 10 tuổi, phải tìm kiếm bố mẹ và đứa em gái bị mất tích trong sự hoang tàn của thành phố. Cô bé đã được những người lính tốt bụng giúp đỡ và dần dần được hội ngộ em gái của mình.

Như nhân duyên, đạo diễn Hải Ninh sau hàng tháng trời chưa tìm được khuôn mặt thích hợp, ông đã nhớ lại cô bé con khoảng 3, 4 tuổi mình gặp mấy năm trước ở khu nhà tập thể điện ảnh phố Hoàng Hoa Thám, ông tìm đến và thuyết phục gia đình cho cô bé con có đôi mắt nai đen láy đi đóng phim. Bộ phim thành công hơn cả mong đợi, kể từ đó trở đi nhân vật “Em bé Hà Nội” đã nằm sâu trong tâm khảm của người Hà Nội và người ta gọi chị với cái tên thật trìu mến “Em bé Hà Nội”.

Đạo diễn Hải Ninh, diễn viên Thế Anh trong bộ phim đó giờ đã lần lượt về miền cực lạc… Thời gian trôi, sinh có hạn, tử bất kỳ, ai cũng không thoát khỏi sinh ly tử biệt đó. Sau khi nghỉ hưu ở Nhà hát Tuổi trẻ, chị đi dạy đạo diễn sân khấu cho lớp cao học ở trường đại học Sân khấu & Điện ảnh Hà Nội.

NSND Lan Hương trong tiết mục hầu đồng.
NSND Lan Hương trong tiết mục hầu đồng.

Thời gian còn lại ở nhà chị có thú vui lau dọn điện thờ. Chị lập điện thờ từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỉ trước. Đạo diễn Tất Bình vốn chiều vợ, ông bằng lòng với tất cả những sở thích hay ước nguyện của vợ. Nhà đủ rộng, dành riêng hai tầng để làm ban thờ, tầng 4 thì thờ gia tiên tiền tổ, tầng 5 thờ công đồng Thánh Mẫu, thờ Phật, và cả Chúa.

Điện thờ của chị có đủ từ Tam toà Thánh Mẫu, đến Hội đồng các Quan, các Mẫu, các Chầu, các Cô, các Cậu, không thiếu một Ngài nào. Chị thờ Phật, và cả Chúa, các Thánh ở một khoảng đất riêng, không ai xâm phạm ai.

Chị tâm sự: “Nhiều người thắc mắc lắm, sao lại thờ nhiều dòng thế?! Thật ra, mọi chuyện đều có lí do của nó. Cụ ngoại của Hương đi tu làm trụ trì một ngôi chùa ở Hải Dương, còn cụ nội thì lại làm cha bên Chúa. Bà ngoại là thầy đồng. Chị ở giữa thấy kính Phật, yêu Chúa, mê Thánh. Dù là Phật, Chúa, hay Mẫu, đạo nào cũng là hướng con người ta bỏ ác làm lành, dẫn dắt con người sống thiện, nhân văn tốt đẹp hơn”.

Hồi còn đi làm chị đam mê nghiệp diễn, đến khi làm đạo diễn Trưởng đoàn kịch hình thể chị cũng xả thân hết mình. Chị may mắn là có hậu thuận vững chắc ở hậu phương là chồng chị, đạo diễn Tất Bình rất yêu chiều vợ, nên chị cứ thoả thuê tung hứng cho nghệ thuật. Có ai chiều vợ như đạo diễn Tất Bình?! Một lần, từ 6 giờ sáng tôi có mặt ở nhà chị để chuẩn bị cùng chị đi rong ruổi những cung đường mà đầu năm chị vẫn hay đi lễ. Một chuyến hành trình sẽ đi qua và dừng chân ở nhiều nơi đền phủ. Tôi thấy trong khu bếp, đã có hai nồi ủ, một nồi cơm, một nồi canh khoai chân giò thơm lừng.

Chị bảo anh Tất Bình dậy từ 4 giờ sáng nấu để cho vợ mang đi đấy. Ui cha! chiều vợ đến nước này thì chỉ có anh Bình. Nhưng mà, đàn ông gì mà nấu ăn ngon đáo để. Chị lái xe, thỉnh thoảng điện thoại lại thấy tin nhắn tít tít, chị quay sang bảo tôi: “Chồng hỏi, em đi đến đâu rồi?.”. Mấy chục năm vợ chồng giăng gió khít khao, dường như họ vẫn như đôi chim câu thủa mới đầu.

Có lần, tôi ngồi với đạo diễn NSND Doãn Hoàng Giang, ông bảo: “Úi, Bình nó mê Hương lắm. Hồi anh dựng vở ở dưới Hải Phòng, tối rồi mà nó còn phóng xuống tận đấy chỉ để nhìn mặt vợ một cái rồi quay về ngay trong đêm để kịp sáng mai còn đi làm”. Gì chứ chuyện này thì tôi tin lắm.

Một lần cùng với chị đi lễ ngồi trên xe một người bạn đến 3 giờ sáng mới về tới Hà Nội. Nhà lại khác cung đường, xe trả mọi người ở cổng bệnh viện Thanh Nhàn, lúc xe vừa mới đỗ xuống đã thấy anh Bình ngồi đợi ở quán nước đêm, chạy ra đón. Mà trời lúc đó đang mùa đông, lạnh thấu da cắt thịt. Anh không biết chạy ôtô, nên gọi taxi đưa vợ về. Một người đàn ông đêm mùa đông, tỉnh dậy gọi xe từ nhà hơn chục km ra đón vợ, có phải ai cũng làm được đâu?!

Chị dù hạnh phúc, vẫn có một nỗi niềm day dứt. Chị chỉ có một cô con gái duy nhất với người chồng đầu tiên. Anh Bình cũng có hai cô con gái với người vợ đầu. Vợ chồng chị không có con chung. Mà họ cũng có cái trùng khó lí giải. Người chồng đầu của Hương cũng tên là Bình. Người vợ đầu của chồng chị bây giờ, anh Tất Bình cũng tên là Hương. Nhưng Hương - Bình này mới thật sự là dành cho nhau khi họ đã đi qua ít nhiều dông gió của cuộc đời.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.