NSND Đào Mộng Long: Nỗi sầu muộn mênh mông...

Đến nay dù đã hơn 40 năm trôi qua nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh nghệ sĩ Đào Mộng Long ngồi giặt áo bên vòi nước công cộng dưới cơn mưa phùn giá lạnh. Khi đó ông vừa mới chia tay người vợ thân yêu của mình. Ở tuổi ngoài lục tuần, nghệ sĩ lại bắt đầu hành trình với nỗi cô đơn. Ông vừa giặt vừa hát bài “Dạ cổ hoài lang”. Nỗi buồn man mác trong mưa bay. Gió giật lá rơi...

Hành trình khởi nghiệp

Nghệ sĩ Đào Mộng Long (1915-2006) là một hiện tượng kỳ lạ trên sân khấu nước ta. Ông sinh ra tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh, từ bé được cha dạy những câu ca vọng cổ và chơi những loại đàn dân tộc. Đào Mộng Long sớm nảy sinh năng khiếu đặc biệt. Hát hay và lãng tử. Mới 18 tuổi, Đào Mộng Long đã đi ca hát và yêu đương lãng mạn. Chính trong quãng đời phiêu du cùng gánh cải lương Hồng Liên (Vinh-Nghệ An), Đào Mộng Long đã giăng mắc vào một cuộc tình nghệ thuật đầy kỳ thú. 

Ông đã được nữ nghệ sĩ nổi tiếng Hồng Liên truyền lại những ngón nghề trình diễn trên sân khấu cải lương. Từ đó Đào Mộng Long càng diễn càng lôi cuốn và giọng ca thêm ngọt ngào làm mê hoặc lòng người. Ngỡ như cuộc tình nghệ sĩ đắm say và hạnh phúc cho dù Hồng Liên hơn Đào Mộng Long ba tuổi. 

Nhưng nỗi bất trắc đã xảy ra. Hai người bị gia đình Hồng Liên ngăn cản quyết liệt. Họ chia tay nhau trong đau khổ. Đào Mộng Long đành phải ra đi và chôn giấu mối tình nghệ sĩ đầu đời trong nỗi buồn não nùng.

NSND Đào Mộng Long.
NSND Đào Mộng Long.

Đào Mộng Long bỏ cuộc tình nhưng không nản cuộc chơi. Ông rời Vinh ra Hà Nội đầu quân cho gánh hát Quảng Lạc. Sau đó Đào Mộng Long quay sang đoàn cải lương Liên Việt (của gia đình Ái Liên) và trở thành kép chính. Ở những nơi này, Đào Mộng Long cũng rơi vào vòng tay ái tình rồi lại tan tác cõi lòng ra đi. 

Được dăm năm, Đào Mộng Long lang bạt vào Nam dựng nghiệp tại gánh hát Nam Hồng. Ở đây ngoài biểu diễn, Đào Mộng Long bắt tay vào viết kịch bản và tham gia dàn dựng sân khấu. Cuộc đời trần ai và bay bổng với tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn, Đào Mộng Long coi nghiệp sân khấu là thế giới sáng tạo nghệ thuật của mình.

Những kịch bản của Đào Mộng Long chan chứa nỗi đắng cay cuộc đời. Nào “Tiền và nghĩa”, hay “Dòng máu thanh niên”, hoặc kịch thơ “Phạm Ngũ Lão”… Thậm chí vở kịch thơ “Dòng máu thanh niên” còn bị chính quyền của giặc Pháp lúc đó cấm diễn. Ý thức công dân - nghệ sĩ không chỉ còn là những phút giây lãng tử mộng mơ nữa mà Đào Mộng Long đã dùng nghệ thuật để lên án xã hội thực dân. Bị chính quyền cấm đoán và đe dọa nhưng nghệ sĩ Đào Mộng Long không nhụt chí. Ông bắt đầu chuyển hướng sáng tác khi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940-1941). Sau đó ông còn là ủy viên Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ Sài Gòn.

NSND Đào Mộng Long vào vai Siar trong vở kịch “Lu Ba”.
NSND Đào Mộng Long vào vai Siar trong vở kịch “Lu Ba”. 

Cuộc đời lang bạt của Đào Mộng Long thực sự bước sang trang mới khi gia nhập đội quân cách mạng năm 1945 (khi ấy ông tròn 30 tuổi). Tại chiến khu, ông cùng ca sĩ Quốc Hương được cử đi hoạt động tuyên truyền văn nghệ cách mạng tại các đơn vị dân quân địa phương. Đào Mộng Long không những ca hát biểu diễn mà còn tham gia sáng tác ca khúc cách mạng. 

Những bài hát của Đào Mộng Long được phổ biến rộng rãi lúc đó như “Hồn Việt Nam” và “Hồn chiến sĩ”. Như một chiến sĩ văn nghệ xung kích, Đào Mộng Long đi sâu vào hoạt động tại các cơ sở cách mạng. Tuy nhiên, khi đó mặt trận miền Nam gặp nhiều khó khăn vì bị giặc khủng bố và bắt bớ liên tục. Đào Mộng Long được anh em văn nghệ sĩ che chở và tìm cách đưa ra Bắc (1947). 

Ngay lập tức, Đào Mộng Long được mời về tham gia hoạt động tại Đoàn Văn công Quân khu IV. Tại đây, Đào Mộng Long được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1949). Rồi sau đó ông được cử làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn ca kịch khu Bốn (1951). Đây là giai đoạn nghệ sĩ Đào Mộng Long nổi lên như một ngôi sao toàn tài vừa sáng tác vừa biểu diễn.

Nghệ sĩ lớn từ những vai nhỏ

Hát hay, diễn giỏi nhưng Đào Mộng Long gặp thiệt thòi vì dáng vóc nhỏ bé nên ít khi được giao diễn kép chính. Không lấy đó làm buồn mà Đào Mộng Long lại tỏ ra thích thú với những vai hoạt kê ngắn. Nghệ sĩ luôn nuôi mộng làm cho những vai phụ đó có một tinh thần riêng và màu sắc dị biệt đáng yêu. 

Vậy nên khi được điều từ Đoàn Văn công Quân khu IV ra nhập Đoàn kịch Nhân dân Trung ương (1954 - tiền thân Nhà hát Kịch Việt Nam), Đào Mộng Long chủ yếu sắm các vai phụ. Có khi chỉ ra sân khấu vài phút hoặc vài chục giây ông cũng diễn có hồn vía của nhân vật. 

Cất lên một tiếng nói cũng là âm thanh có sứ mệnh chứ không bâng quơ. Cái chất phiêu lưu và lãng tử vẫn hiện lên phảng phất trong phong cách nghệ thuật của Đào Mộng Long. Nhưng mỗi câu nói của ông bật ra như có ngọn lửa tâm cảm đốt cháy. Cách diễn của Đào Mộng Long khác người là vậy. Kỹ lưỡng và đậm yếu tố triết lý từ mỗi hình tượng nhân vật.

NSND Đào Mộng Long với những vai diễn để đời qua một số nhân vật nổi tiếng.
NSND Đào Mộng Long với những vai diễn để đời qua một số nhân vật nổi tiếng.

Dàn diễn viên Nhà hát kịch Việt Nam luôn học ở Đào Mộng Long một trách nhiệm về số phận nhân vật được trình diễn. Người ta kể, đêm diễn nào của Đào Mộng Long cũng đem lại nét tươi mới. Trước khi ra sân khấu, bao giờ Đào Mộng Long cũng thăm dò đối tượng khán giả mà mình phục vụ. Từ đó ông tìm ra một cách thể hiện cho phù hợp. 

Vẫn đường nét và tâm cảm nhân vật của kịch bản nhưng có khi được ông nhấn nhá ở khẩu ngữ, hay thêm vài động tác thể hiện tâm trạng ẩn sâu. Khán giả hình dung ra được đời sống và tính cách của nhân vật cho dù ông chỉ nói một câu khi đi qua sân khấu. Hệ thống nhân vật của Đào Mộng Long dần dần hình thành như một bộ sưu tập mẫu cho nhiều thế hệ diễn viên sau này.

Nói đến nghệ sĩ Đào Mộng Long, khán giả không thể nào quên những chi tiết độc đáo của ông qua những nhân vật phụ. Đặc biệt nhiều người còn nhớ khi diễn vai Chánh Tôn trong vở kịch “Chị Hòa”, nghệ sĩ Đào Mộng Long đã bị khán giả ném gạch lên sân khấu suýt vỡ đầu. Bởi lẽ ông nhập vai nhân vật tàn ác và thâm hiểm quá làm cho người xem ngỡ đó là thật. Họ căm thù tên Chánh Tôn và nổi giận vớ gạch ném lên sân khấu để phản đối. 

Cùng với đó là những nhân vật rất phụ như Cụ Hồng trong vở “Đầu sóng ngọn gió”; hay người dân công trong “Tình chiến thắng Nghĩa Lộ”. Rồi đó còn là cụ Ba Bơ trong vở “Bão biển”; người hát xẩm trong vở “Âm mưu và hậu quả”… Nhưng có lẽ với những kịch bản nước ngoài, nghệ sĩ Đào Mộng Long càng trở nên quái dị qua nhưng nhân vật rất độc đáo. 

Đến nay vai tên lưu manh Sia-rơ vở “Lu Ba”, nhân vật Gô-vo-di-lin vở “Khúc thứ ba bi tráng”, hay vai Phau-nhin vở “Xâm lược”… của Đào Mộng Long là những ngón “Độc đao thần kiếm”. Nhất là nhân vật tên tư sản xảo quyệt Gô-vơ-di-lin vẫn ẩn hiện đâu đây mỗi khi ai nhớ đến ông. Với 15 phút độc thoại, Gô-vơ-di-lin thể hiện đúng là bóng ma của thần chết và sự điên rồ của tội ác. 

Cái khó khi diễn xuất bằng âm thanh và giọng nói đầy sự ám ảnh thể hiện được bản chất của nhân vật không dễ dàng chút nào. Khi ấy khí chất của nhân vật hiện lên mồn một làm trái tim người xem chuyển động với từng câu nói, từng quãng lặng và ánh sáng chiếu rọi. Đào Mộng Long muốn qua giấc mơ của tội ác mà lên tiếng cảnh giác cho loài người về những điều xấu xa đang lẩn quất quanh ta. Ông được Nhà nước phong danh hiệu NSND năm 1984.

Nỗi niềm ẩn giấu

Nghệ sĩ Đào Mộng Long nổi tiếng là đào hoa. Nhưng có lẽ số mệnh ông luôn gặp những trắc trở, dở dang. Từ mối tình đầu với nghệ sĩ Hồng Liên rồi sau đó ăn ở với cô Tư Chung và vài nhan sắc khác nhưng không được bao lâu. Ông luôn chìm trong sự lẻ loi. Ngay đến người vợ thứ ba là NSND Phạm Thị Thành kết hôn cũng chỉ được ba năm hạnh phúc (khoảng đầu thập niên 1960). Sau khi nghệ sĩ Phạm Thị Thành đi học đạo diễn 7 năm ở Nga về, hai người chính thức chia tay. Niềm an ủi lớn nhất với ông là hai người con.

NSND Đào Mộng Long cặm cụi với những vai diễn kiệt xuất và sống trong nỗi sầu muộn mênh mông trong căn nhà nhỏ của khu tập thể nghệ sĩ. Tôi vẫn nhớ hai câu đối Tết của ông làm như hai bức trướng khắc họa trên tường: “Yêu nghệ thuật trăm năm quá ngắn/ Làm kiếp người một tuổi dài ghê”.

Vương Tâm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.