Nobel văn chương thiên tài trẻ tuổi nhất

Cho đến nay, trong lịch sử Nobel văn chương, ngôi vị người trẻ tuổi nhất đoạt chiếc vương miện danh giá nhất hành tinh này chưa ai vượt qua được thi sĩ Rudyard Kipling (1865-1936) người Anh. Ông được vinh danh Nobel văn học năm 1907, ở tuổi 41.

Thiên tài toàn diện và vĩ đại

Năm 1907, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải Nobel Văn học cho thi sĩ kiêm tiểu thuyết gia Joseph Rudyard Kipling 41 tuổi, cùng lời nhận xét: "Khả năng quan sát với trí tưởng tượng độc đáo, chính là những điểm đặc trưng cho những sáng tạo của tác giả nổi tiếng này". 41 tuổi, khi nhận giải Nobel, ông đã có trong tay 20 tập sách, trong đó 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập ký, bài báo.

ng copy.jpg -0
Rudyard Kipling - Người đoạt giải Nobel trẻ tuổi nhất.

Không chỉ là nhà thơ, R.Kipling còn được biết đến là một nhà báo, nhà văn, kiêm tiểu thuyết gia xuất sắc. Sinh ra trong một gia đình cả bố mẹ cùng hoạt động nghệ thuật ở Ấn Độ, R.Kipling được xem là con nhà nòi khi cha là một chuyên gia Anh về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ, Giám đốc Trường Nghệ thuật Mumbai, mẹ là con một gia đình danh giá ở London.

Nổi tiếng từ năm 17 tuổi, R.Kipling sớm bộc lộ tư chất thiên tài khi sáng tác trên nhiều lĩnh vực thơ, văn, kịch, báo viết. Đặc biệt ông sáng tác nhiều truyện ngắn, truyện du kí, và thơ về đề tài thiếu nhi. Các sáng tác của ông có chủ đề đa dạng, từ tình yêu quê hương, đất nước, yêu nhân loại, ca ngợi vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên và các sáng tác khoa học viễn tưởng hấp dẫn độc giả khắp thế giới. Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông đều là những tác phẩm kinh điển, và các nhà phê bình đã gọi ông là "Người có biệt tài kể chuyện uyên bác và xuất sắc".

Những tác phẩm viễn tưởng của ông bao gồm bộ đôi "Chuyện rừng xanh",  "Kim" , "Chuyện là như thế" và rất nhiều truyện ngắn, bao gồm "Người đàn ông sẽ trở thành vua". Các tác phẩm thơ kinh điển của ông "Mandalay", "Gunga Din", "Những vị thần của tiêu đề bản sao sách" "Gánh nặng người da trắng", và " Nếu" - bài thơ được bình chọn hay nhất trong lịch sử thi ca nước Anh. Henry James, tiểu thuyết gia, nhà phê bình văn học Mỹ đã từng nói rằng "Kipling là một thiên tài toàn diện nhất, với trí tuệ khác xa với loại trí tuệ mà tôi từng biết".

Ở vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, R.Kipling được xem là một trong những nhà văn Anh Quốc nổi tiếng nhất. Ngoài giải Nobel, Kipling được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Oxford, Cambridge, Edinburgh, Đại học Paris, Athens, Toronto… và giải Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh. Ông cũng từng được bầu là thi sĩ Hoàng gia và một vài lần là Tước hiệp sĩ. Nhưng với cá tính và cuộc đời nhiều uẩn khúc, ông đã đến Stockholm nhận giải nhưng không đọc diễn văn và cả mấy lần ông đều từ chối thi sĩ Hoàng Gia và Tước hiệp sĩ. 

Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, Rudyard Kipling chọn cuộc sống lặng lẽ, tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết "Kim" như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở Sussex nước Anh cho đến cuối đời.

Bài thơ vĩ đại

Bài thơ "Nếu" là một thi phẩm nổi tiếng nhất của ông. Bài thơ này được tác giả sáng tác vào năm 1895 và in lần đầu vào tháng 10/1910, trên Tạp chí The American Magazine.

Xin được chia sẻ thêm về đời riêng của Kipling. Có lẽ bi kịch lớn nhất của đời ông chính là mất đi 2 người con một trai một gái mà ông rất đỗi yêu thương và tự hào. Kipling có hai người con. Bất hạnh thay, trong hành trình cả gia đình ông di cư đến Mỹ, cả nhà đã bị bệnh viêm phổi. Trận viêm phổi nặng nề đó đã cướp đi cô con gái yêu mới lên 6 tuổi của ông, và để lại trong đời sống gia đình ông những di chứng nặng nề về nỗi đau, sự mất mát.

Nhưng chưa hết những bất hạnh, số phận đã một lần nữa đã chơi khăm Kipling, đánh ông gục ngã khi người con trai của Kipling là Jack Kipling, đã chết năm 1915 trong một cuộc tử chiến trên đất Pháp thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đây là một nỗi đau đeo đẳng suốt đời của Kipling bởi trước đó, con trai ông từng bị từ chối không cho nhập ngũ vì cận thị, song ông đã dùng ảnh hưởng của mình để đưa bằng được cậu con vào quân đội, lại ở đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu. Ông dạy con trai luôn phải sống xứng đáng là người con ưu tú, dũng cảm, yêu đất nước, sống có lí tưởng, sẵn sàng cống hiến cho tổ quốc. Việc này đã gây mâu thuẫn nặng nề giữa ông và vợ, nhất là khi Jack biệt vô âm tín trong một trận chiến (sau được coi như đã chết). Năm 2007, một bộ phim dựa trên câu chuyện có thực này với nhân vật trung tâm là người con trai của Kipling đã được sản xuất và trình chiếu phục vụ công chúng Anh quốc. Nỗi đau mất hai người con đã dày vò ông suốt cả cuộc đời.

Bài thơ "Nếu" lan tỏa và chấn động cả nước Anh bởi những thông điệp mà Kipling gửi gắm. Trong tiểu thuyết "Cái chết của một anh hùng", nhà văn Anh Richard Aldington đã trích dẫn một số câu trong bài thơ để ca ngợi tinh thần bất khuất của người lính ngoài mặt trận trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất. Đạo diễn người Anh Lindsay Anderson cũng đã mượn tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim của mình sản xuất năm 1968 từng được giải thưởng Cành Cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes… Kipling từng cho biết, bài thơ đã được nhiều nơi in ra như những bức tranh để treo trong phòng làm việc, trong phòng ngủ hoặc những nơi trang trọng. Nhiều người coi đây như những lời nhắc nhở, như một quan niệm sống.

Hiện nay, bài thơ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Và thường là do những dịch giả có tên tuổi thực hiện. Như ở Myanma, nơi có thành phố Mandalay được nhắc tới trong bài thơ, bài thơ đã được thực hiện bởi Aung San Suu Kyi, người từng được trao giải Nobel về hòa bình năm 1991. Ở Nam Tư, bản dịch cũng đã được thực hiện bởi nhà văn Ivo Andric, người được giải Nobel văn học năm 1961.

Tại Việt Nam, bài thơ tuyệt tác của Kipling từng được giới thiệu với bạn đọc qua bản dịch Pháp văn của dịch giả Nguyễn Hiến Lê từ cách đây mấy chục năm. Sau này đã có thêm nhiều bản dịch khác sát nghĩa hơn. 

rudyard kipling chọn cuộc sống lặng lẽ cuối đời.jpg -1
Rudyard Kipling chọn cuộc sống lặng lẽ cuối đời.

Thơ văn của Kipling phản ánh cuộc sống người lính và nghĩa vụ của họ đối với Đế quốc Anh. Điều này đã khiến sinh thời, bên cạnh sự hoan nghênh của độc giả Anh quốc, Kipling cũng bị các đồng nghiệp và bạn đọc ở nhiều quốc gia lên án là kẻ cổ xúy tư tưởng đế quốc, ủng hộ phát xít. Tuy nhiên, nói như Paustovsky thì "ảnh hưởng của Kipling đối với nền văn học thế giới là rất to lớn". Còn theo nhận định của tiểu thuyết gia Neil Gaiman thì Kipling thực sự là một nhà văn vĩ đại, là người hoàn toàn "xứng đáng với giải thưởng Nobel". 

Văn nghệ Công an xin giới thiệu bài thơ “Nếu” qua bản dịch của Nguyễn Hoàng Ái.

NẾU

Nếu con có thể bình tâm khi mà tất cả
Hết thảy kinh hoàng và đổ lỗi cho con
Nếu con vẫn vững tin khi mọi người nghi kỵ
Mặc ai đó không tin nhưng con vẫn vững lòng
Nếu con biết đợi chờ và kiên nhẫn chờ trông
Không lấy điều dối gian đáp lại điều gian dối
Hoặc bị căm ghét mà không căm ghét lại
Không nói những lời khôn, không ra vẻ thánh thần.

Nếu con mơ ước mà không để ước mơ làm chủ đời con
Nếu con có thể suy tư mà không lấy nó làm mục đích
Nếu cả Thành công, Thất bại trên đường đời con gặp
Mà vẫn như nhau - đối xử một tấm lòng
Nếu con biết nghe sự thật những lời của con
Bị kẻ bất lương làm bẫy lừa kẻ dại
Hoặc nhìn đời con đổ vỡ, đành làm lại
Và con cúi xuống dựng nên với công cụ đã mòn.

Nếu con dám đem những đồng vốn của mình
Đổ hết vào một trận ăn thua úp ngửa
Đành làm lại từ đầu vì đã mất tất cả
Mất mát của mình không một chút thở than
Nếu con ép được con tim, thớ thịt đường gân
Phục vụ cho mình để giành mục đích
Và cố níu giữ, dù chẳng còn sức lực
Nhưng ý chí vẫn đòi: "Hãy giữ vững lòng tin!".

Nếu con giữ tư cách khi nói chuyện với mọi người
Hay khi ngồi với Vua - thường dân không gián đoạn
Nếu không để thiệt cho mình - dù với thù hay bạn
Không còn để ai nợ nần hay còn nợ gì ai
Nếu mỗi phút giây con có được trong đời
Không để phí hoài mà luôn luôn đặt trên đường chạy
Thì thế giới này sẽ là của con, cùng tất cả những gì trong đấy
Và - quan trọng hơn - con trai, con là một Con người!

                                               Bản dịch của Nguyễn Hoàng Ái

Trung Hiếu (tổng hợp)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.