Nỗ lực hồi sinh dòng tranh hàng Trống

Rất nhiều năm nay khi nói đến tranh Hàng Trống, một dòng tranh cổ nổi tiếng của đất Thăng Long – Hà Nội, nhiều người vẫn nghĩ chỉ còn mỗi mình Nghệ nhân Ưu tú Lê Ðình Nghiên theo nghề mà không mấy ai biết rằng con trai ông - nghệ nhân trẻ Lê Hoàn cũng đang nỗ lực hồi sinh dòng tranh dân gian độc đáo này. Với nghệ nhân sinh năm 1988 này thì việc nối tiếp nghề của cha một phần vì đam mê, một phần vì trách nhiệm trước tổ tiên và dân tộc.

Quyết nối nghiệp cha

Nghệ nhân Lê Đình Nghiên sinh năm 1950 trong một gia đình có nghề truyền thống làm tranh tại làng Bình Vọng (Hà Tây cũ). Khi còn nhỏ, ông đã theo gia đình đến lập nghiệp tại phố Hàng Trống (Hà Nội). Ông nội và người cha thân sinh ra ông là hai cụ: Lê Xuân Quế, Lê Đình Liệu cũng là hai nghệ nhân làm tranh Hàng Trống có tiếng một thời. Có lẽ, chính những tháng ngày được “mài mực” bên cạnh cha và ông nội mà ông đã lĩnh hội được những kỹ thuật tinh túy nhất của nghề làm tranh. Sau khi cha mất, tuy gia đình có tới 7 anh chị em, nhưng chỉ có ông là người kế nghiệp.

Nghệ nhân Ưu tú Lê Đình Nghiên.
Nghệ nhân Ưu tú Lê Đình Nghiên.

Nghệ nhân Lê Đình Nghiên cả cuộc đời theo đuổi nghiệp làm tranh, chơi tranh với bao ấp ủ, dự định. Giờ đây khi tuổi đã cao ông lại dồn hết tinh hoa đó truyền cho người con trai cùng chung niềm đam mê nghệ thuật tranh như ông. Bộc bạch với tôi, nghệ nhân Lê Đình Nghiên cho biết: “Gia đình tôi có nhiều đời làm tranh nhưng nghề này phải nói rất kén người làm, đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, kiên trì, khéo tay, phải thật sự yêu và đam mê mới làm được. Học lâu, khó truyền mà cũng khó kiếm ăn, nhưng tôi vẫn bắt cháu Hoàn theo bằng được, không thì sau này còn có ai làm nữa. Tôi cố gắng hướng cho con giữ gìn được nét đẹp dân gian này y như cha tôi,- nghệ nhân Lê Đình Liệu- đã từng truyền dạy cho tôi”.

Nói về bước đường đến với nghề, nghệ nhân trẻ Lê Hoàn tâm sự: từ những lần xem cha ngồi tỉ mẩn khắc gỗ, lên màu đã nhen nhóm niềm yêu thích và đam mê khi anh mới 9 tuổi. Anh đã không mất quá nhiều thời gian để “nhập cuộc”, những bỡ ngỡ thuở ban đầu dần trôi đi, anh đã nhớ từng mảng này đi vào màu này, mảng kia đi với màu kia. Thế rồi màu vẽ, bút vẽ, những bản khắc gỗ và những bức tranh gắn bó với cuộc đời anh từ đó đến nay và nó cứ diễn ra tự nhiên như một thói quen ăn vào máu. Bởi thế hiện nay những kĩ thuật khó trong làm tranh Hàng Trống như bồi tranh, cản màu… anh đều đã rất thành thạo. Anh cho biết chính giá trị mộc bản cũng như cái tôi cá nhân hiện rõ qua từng tác phẩm là yếu tố thách thức người nghệ nhân nhưng cũng làm cho người nghệ nhân say mê với nghề.

Thu những “trái ngọt”

Những khó khăn vất vả trong suốt những năm tháng theo nghề của Lê Hoàn giờ đây đã được đền đáp xứng đáng. Nhiều bức tranh Hàng Trống đã được lãnh đạo Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chọn lựa đặt trang trọng trong phòng triển lãm các dòng tranh dân gian Việt Nam. Nhiều khách đến tham quan bảo tàng đã không khỏi ngỡ ngàng, không chỉ vì đây là những bức tranh Hàng Trống có kích thước lớn nhất từ trước đến nay mà bởi sự hài hòa về màu sắc, sự tinh tế trong từng nét vẽ, sự linh hoạt trong sắc thái đậm, nhạt trong từng gam màu. Đặc biệt hơn là những tác phẩm đó không mặc nhiên thuộc về nghệ nhân Lê Đình Nghiên như mọi người vẫn nghĩ, đó là sản phẩm chung của nghệ nhân Lê Đình Nghiên và cậu con trai Lê Hoàn. Tất cả chứng minh cho những năm tháng miệt mài học hỏi của chàng trai trẻ.

Mặc dù không được học bất cứ khóa đào tạo bài bản nào nhưng những gì người cha của mình “cầm tay chỉ việc” thì giờ Lê Hoàn đã có thể độc lập vẽ những bức tranh Hàng Trống hết sức tinh xảo, đẹp mắt. Một số bức do anh vẽ đã có mặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – nơi cha anh rồi anh đang công tác. Việc anh được công tác tại đây, ngoài việc phục chế tranh giấy cổ còn là nơi mà anh có thể hoàn thiện được tay nghề. Bởi ở đó anh đã được học thêm kỹ thuật bồi tranh, sửa tranh do Bảo tàng cử đi học nâng cao và Bảo tàng cũng là nơi sưu tầm được nhiều tranh cổ từ khắp mọi miền Tổ quốc để anh có cơ hội được phục dựng. Đó là môi trường, là kinh nghiệm quý báu để anh có thể phát triển được tài năng.

Giờ đây Hoàn đã có thể độc lập vẽ những bức tranh Hàng Trống hết sức tinh xảo, đẹp mắt, thế nhưng trong ký ức của mình anh vẫn còn nhớ đến kỷ niệm với hai bức vẽ chung với cha và đem đi triển lãm “12 dòng tranh dân gian tiêu biểu Việt Nam” tại Bảo tàng Hà Nội năm 2016. Đó là bức “Tứ phủ công đồng” và “Ngũ hổ” với cùng kích thước 1,4m x 1,8m và được coi là bức tranh Hàng Trống có kích thước lớn nhất từ trước đến nay. Để hoàn thành nó, hai cha con anh đã phải lao động miệt mài suốt mấy tháng trời.

Mơ một triển lãm riêng

Với niềm say mê dòng tranh Hàng Trống, nhiều đồng nghiệp của Lê Hoàn ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam luôn tin tưởng và hy vọng Hoàn sẽ là “nhịp cầu” “kéo” người trẻ đến với dòng tranh này. Họa sĩ Lê Quốc Huy, Phòng Nghiên cứu, Sưu tầm, Giám định tác phẩm mỹ thuật (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) cho biết: thật may mắn khi ở dòng tranh Hàng Trống còn một nghệ nhân Lê Đình Nghiên và một điều may mắn nữa là ông có một truyền nhân là người con trai yêu quý của mình – nghệ nhân Lê Hoàn. 

Họa sĩ Nguyễn Thế Hiển, Trung tâm Bảo quản, Tu sửa tác phẩm mỹ thuật (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) nhận xét: “Hoàn là người trẻ tuổi nhưng có đam mê nhiệt huyết với dòng tranh Hàng Trống, một dòng tranh đang bị thất truyền. Trong hiện tại người trẻ ít quan tâm đến tranh dân gian mà Hoàn gìn giữ được là điều rất đáng quý”.

Nghệ nhân trẻ Lê Hoàn thể hiện bức tranh Hàng Trống.
Nghệ nhân trẻ Lê Hoàn thể hiện bức tranh Hàng Trống.

Với sự giúp đỡ của cha và mong muốn giữ nghề gia truyền, Hoàn đã dần học hỏi và nắm vững cơ bản các thao tác, kĩ thuật để xử lý tranh cũng như bảo tồn vốn quý của dân tộc. Thành quả bước đầu đã được công chúng ghi nhận nhưng với Hoàn quan niệm rằng ngủ quên trên chiến thắng là thất bại. Hoàn mong muốn sẽ mở được triển lãm riêng cho mình, đó sẽ là dấu ấn, kỷ niệm, công sức phấn đấu của chàng trai trẻ với lòng đam mê không mệt mỏi với nghiệp tranh Hàng Trống. Và đó cũng là cách truyền bá tranh tốt nhất đến với công chúng, nhất là với giới trẻ. Xem tranh Hoàn vẽ, nghe Hoàn kể chuyện, tôi nghĩ rằng nghệ nhân trẻ Lê Hoàn hoàn toàn có thể mơ về một ngày không xa ấy bởi người nghệ nhân này mới chỉ bước vào tuổi 33, độ tuổi tràn đầy năng lượng và sự sung sức với nghề.

Suốt gần 20 năm qua trong căn nhà nhỏ ở ngõ Cửa Đông (Hà Nội) là xưởng vẽ và cũng là nơi người nghệ nhân trẻ đã và đang nỗ lực gìn giữ giá trị văn hóa xưa mà cha ông để lại. Nhìn những bức vẽ qua bàn tay Hoàn, người xem cũng phần nào nhìn thấy lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ trong việc gìn giữ văn hóa của dân tộc. Câu chuyện nối nghiệp của hai cha con nghệ nhân Lê Đình Nghiên – Lê Hoàn cũng cho thấy sức sống mạnh mẽ của dòng tranh dân gian Hàng Trống. Giờ đây ở cái tuổi “xưa nay hiếm” khi “mắt đã mờ, chân đã chậm”, nghệ nhân Lê Đình Nghiên đã phần nào yên tâm về việc tìm người nối nghiệp. Tuy nhiên, nhìn rộng ra thì việc gìn giữ và phát triển dòng tranh dân gian này có mình nghệ nhân trẻ Lê Hoàn là chưa đủ, rất cần sự vào cuộc của cơ quan quản lý văn hóa, sự đồng lòng, quyết tâm, tâm huyết của những người yêu tranh dân gian Hàng Trống.

Ngô Khiêm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.