Ninh Viết Giao: Ngài xứ Thanh nên danh xứ Nghệ

Mấy chục năm nay, người dân xứ Nghệ có câu tự trào: "Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh họa đồ/ Ai vô xứ Nghệ thì vô / Còn choa, choa cứ Thủ đô choa về". Bởi vì đó là dòng di chuyển chính của con dân đất nghèo mà ham học, ham làm, từ nhiều đời nay. 

Nhưng hơn 60 năm trước, có một sinh viên khóa đại học đầu tiên sau hòa bình 1954, đã đi ngược chiều, và ông đã làm nên một huyền thoại dân gian mới, để được lưu danh trong bài thơ nhại lại thơ cụ Tản Đà: "Nực cười cho bác Viết Giao/ Quê hương Thanh Hóa lại vào Nghệ An/ Sưu tầm văn học dân gian/ Bàn chân trải khắp trên ngàn dưới sông/ Dạo chơi Nam Bắc Tây Đông/ Bạn bè sum họp, vợ chồng cách xa". Đó là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ninh Viết Giao (1933-2004), người vừa được Chủ tịch nước ký tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2017.

Quê ông ở làng Đông Thôn, tên nôm là Kẻ Sài, xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông là sinh viên khóa đầu tiên của Đại học Hà Nội. Ở trường, ông gặp lại các thầy dạy ở Thanh Hóa, trong đó gần gũi nhất có thầy Trương Tửu, Trần Đức Thảo.

Ngày tốt nghiệp, ông nhận nhiệm vụ vào Khu IV dạy cấp 3. Ông nhớ, trước buổi lên đường, tới chào và xin ý kiến thầy Trương Tửu, thầy bảo: "Anh có năng khiếu và chịu khó, nếu ở lại Hà Nội thì đi vào lĩnh vực nghiên cứu văn học hiện đại, bây giờ về địa phương thì nên đi vào văn học dân gian". Thầy còn nói thêm: "Trong văn học dân gian có một loại hình chưa ai khám phá, đó là câu đố. Ra dạy cấp 3, anh nên dành thời gian đế sưu tập và tìm hiểu câu đố".

Hành trang vào đời của người giáo viên trẻ khi được phân công về khu IV là hai bồ sách, hai bộ áo quần và chiếc áo khoác cũ. Lọc cọc mấy ngày mới từ Thủ đô về Vinh. Nhưng khi xuống xe, trước một vùng đất nhà tranh, cửa liếp tan hoang sau cơn bão lớn, Ninh Viết Giao ngơ ngác hỏi thành phố Vinh ở đâu? Hóa ra, bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp, mấy năm sau hòa bình, Vinh vẫn là một thị tứ cơ hàn.

Ninh Viết Giao và bìa cuốn “Xứ Nghệ và tôi” của ông.
Ninh Viết Giao và bìa cuốn “Xứ Nghệ và tôi” của ông.

Không được về Thanh Hóa quê nhà như nguyện vọng, ông xin về dạy cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng. Trường học lúc đó là một khu đất trên đó nhà nhà xiêu vẹo, đổ nát, tranh tre, nứa ngổn ngang sau bão. Nhưng ông không ngờ, chính trên mảnh đất đó, thầy giáo trẻ Ninh Viết Giao đã bắt đầu một sự nghiệp làm thầy, làm nhà nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian mà số lượng tác phẩm, cho đến nay, ở nước ta, không có mấy người sánh kịp.

Mới đi dạy năm thứ hai, nghe lời dặn thầy Trương Tửu, tận dụng đóng góp của các học sinh chung tay sưu tầm câu đố và biên soạn cuốn sách. Một ngày nọ, thầy giáo trẻ Ninh Viết Giao sung sướng nhìn thấy trên giá ở hiệu sách nhân dân thành phố Vinh cuốn sách "Câu đố Việt Nam" của chính mình sưu tầm biên soạn. Tôi may mắn có mặt trong đám học trò hôm đó chứng kiến những ngày thầy trò cả trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng mừng sự kiện người thầy trẻ của mình đã có sách được in...

60 năm qua, niềm tự hào của thế hệ học sinh chúng tôi về trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng, về những người thầy dạo ấy, trong đó có  thầy Ninh Viết Giao vẫn là nguồn cội của mọi cuộc gặp gỡ. Cũng lạ, hầu hết các thầy ngày ấy sau này đều chuyển lên  dạy các trường đại học hay cấp 3 ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

Bộ môn văn có các thầy: Nguyễn Đức Bính (tác giả hai bài chân dung từng gây sửng sốt trên văn đàn: "Người Cổ nguyệt - Chuyện Xuân Hương", "Ngô Tất Tố như tôi đã biết"), thầy Hoàng Triều, thầy Trần Đình Hượu, thầy Nguyễn Đức Nam, thầy Hoàng Thiệu Khang, thầy Tôn Gia Các, thầy Đinh Xuân Hiến… chỉ riêng thầy Ninh Viết Giao là vẫn kiên trì bám trụ lại mảnh đất Nghệ An.

Thực ra, ông dạy ở trường Huỳnh Thúc Kháng chỉ có 4 niên khóa, nhưng trong thời gian không dài đó, Ông đã kịp thực thi lời dặn của thầy Trương Tửu về sưu tầm và tìm hiểu văn học dân gian theo phương thức riêng của mình: Huy động sự đóng góp của học sinh. Dạo đó, cả tỉnh Nghệ An và mấy huyện phía Bắc Hà Tĩnh chỉ có một trường cấp 3.

Một nhiệm vụ được nhà trường giao cho học sinh trong các dịp được nghỉ là về quê sưu tầm văn học dân gian ở ngay địa phương của mình. Sau mấy năm kháng chiến, rồi cao trào cải cách ruộng đất, đền thờ, miếu mạo, bị biến thành kho phân hay chuồng bò của hợp tác xã, những tàn tích của chế độ phong kiến bị quét sạch, nhiều tủ sách cổ quý giá bị đốt hay vứt bỏ.

Cùng với sự tàn phá ký ức bởi thời gian, thì ý thức của người dân được giác ngộ, chủ động thanh lý không thương tiếc những di sản văn hóa xưa đọng bám vào ký ức, vốn văn hóa phi vật thể giàu có ở xứ Nghệ đã có thời ngỡ được quét sạch. Cho nên, khi đến địa phương, thầy đặt vấn đề cho học sinh sưu tầm ca dao, hò, vè, ví giặm… không  dễ được chấp nhận.

Cho đến những năm chống Mỹ, khi thầy được giải phóng mọi công việc hành chính, có mấy năm đi khắp các xóm làng miền xuôi, thôn bản miền ngược xứ Nghệ. Trực tiếp sưu tầm và thẩm tra, đối chiếu, xác minh lại các nguồn tư liệu, cũng nhiều lần bị xét hỏi, tra vấn: Tại sao cả nước đang dốc lòng cho đánh Mỹ, lại có người đi tìm hỏi những câu hát hò xưa cũ để làm gì? Có lợi dụng moi móc tin tức, kích động nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ không?

Có phải lần mò các địa chỉ bí mật quân sự để chỉ điểm cho Mỹ bắn phá không? Dù đã có giấy giới thiệu của cấp tỉnh, lần nào thầy cũng phải nhờ đến các học trò đang làm các chức vụ quan trọng khắp tỉnh, huyện, xã, hay giáo viên cấp 2, cấp 1 ở ngay địa bàn giải thoát. Sau mấy năm dạy cấp 3, do lý do sức khỏe, thầy được điều chuyển về Trường Sư phạm Trung học, vừa dạy học, vừa làm công tác bồi dưỡng giáo viên.

Trên cơ sở những cuốn sách đã được xuất bản, như  "Hát phường vải" (1961), "Hát giặm Nghệ Tĩnh" (cộng tác với Nguyễn Đổng Chi, 1962)  "Vè  Nghệ Tĩnh", "Truyện Phương Hoa" (1964), nhìn thấy khả năng của thầy, và trầm tích văn hóa dân gian xứ Nghệ, Tỉnh ủy Nghệ An đã đưa Ninh Viết Giao về Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng, với nhiệm vụ sưu tầm thơ văn yêu nước và cách mạng, cũng như văn hóa dân gian.

Tận dụng thời gian và điều kiện, trong những năm chiến tranh ác liệt nhất (1966-1972), ông đã lăn lộn khắp hang cùng, xóm vắng, vừa tuyên truyền, giới thiệu, tổ chức trò chuyện để khơi gợi tình yêu quê hương, truyền thống văn hóa và cách mạng, vừa lắng nghe các nhân chứng cung cấp thêm tư liệu, cứ liệu cho các văn bản đã sưu tầm.

Nhờ tài thuyết khách của ông, từ hoài nghi, cảnh giác, nhiều nơi, bà con đã cùng ông ôn dựng lại không gian hoạt động lễ hội xưa, để những câu ca, vè, ví, giặm, phường vải tưởng bị vĩnh viễn bị vùi lấp nay được nhớ lại và có cơ hội được diễn xướng cho nhiều người thưởng thức. Xuất phát từ văn học dân gian, khi đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, ông mới thấy mối gắn kết giữa văn hóa, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán… là vô cùng quan trọng.

Ông xác định: Một người nghiên cứu văn học dân gian, muốn đi xa, đi dài thì phải nhanh chóng trở thành một nhà địa phương học. Tự thấy vốn kiến thức hạn chế của mình, Ninh Viết Giao đã phải tìm nhiều cách để trang bị thêm những hiểu biết về triết học, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo, thần tích. Nhờ thế khi có điều kiện, hàng loạt tập sách liên quan đến các loại hình văn học dân gian, văn hóa, địa lý, lịch sử của tỉnh, các huyện, các dân tộc thiểu số đã được ông trực tiếp biên soạn và tổ chức thực hiện: "Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh", "Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam", "Thơ văn nhà Nho xứ Nghệ", "Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ", "Kho tàng Ca dao xứ Nghệ", "Truyện cổ Thái", "Kho tàng vè xứ Nghệ", "Tục thờ Thần và Thần tích xứ Nghệ".

Cho đến nay, đã có gần 60 đầu sách liên quan đến văn hóa xứ Nghệ  của ông đã được xuất bản, dù 15 năm cuối ông phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo. Đánh giá đúng công lao và giá trị khoa học các công trình của ông, ngay từ năm 1984, Ninh Viết Giao là người thầy giáo cấp 3 duy nhất ở địa phương được phong hàm Giáo sư cấp 1 (nay gọi là Phó Giáo sư), và được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 2001.

Gần 60 năm, kiên trì bám trụ ở một địa phương, với khả năng và năng suất lao động kiên định, kiên nhẫn, nỗ lực, có phương pháp khoa học, thầy Ninh Viết Giao đã có công đầu làm hiển lộ và cố định kho báu văn hóa tinh thần phong phú, giàu bản sắc của xứ Nghệ. Những ngày cuối, tới thăm thầy, ông còn đưa ra giới thiệu hàng vạn trang bản thảo đã hoàn thành mong có ngày được in.

1-5-2017

Ngô Thảo

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.