Những tấm ảnh kể chuyện

Tân Thủy là xã vùng giữa của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Giang sống ở miền quê đẹp này. Tháng ba, tôi đến thăm ông khi trong những khu vườn ở đây mùa xuân vẫn chưa tàn. Mướt xanh và rực rỡ. Ông không khác bao nhiêu so với lần đầu tiên tôi gặp 10 năm trước. Đã tuổi 83 nhưng vẫn dáng người thẳng thớm và tráng kiện, vẫn vui tính và có chút hào hoa của thời tuổi trẻ. Ông nói, lần này ông sẽ cho tôi xem những tấm ảnh quý và nhờ tôi một việc.

Chuyện bắt đầu cách nay gần 30 năm, một hôm ông Bùi Đình Sơn - giáo viên ở thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thủy mang đến cho ông tờ báo, trong đó có đăng tấm ảnh hai chiến sỹ giải phóng quân kèm theo lời nhắn: “Trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, trên đường công tác, phóng viên chúng tôi đã bất ngờ gặp và ghi lại hình ảnh tự tin, vững vàng của hai chiến sỹ biệt động thành Quảng Trị trước lúc lên đường diệt ác trừ gian. Bao nhiêu năm trôi qua, ngoài tấm ảnh ghi chú tên hai đồng chí là H. và T. chúng tôi không còn tin tức gì về họ...”. 

Ngay lập tức ông nhận ra mình và một đồng đồng khi đang chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ. Hai người cưỡi trên chiếc xe Honda 67 trông rất ngầu. Ông ngồi phía sau. Đó là vào năm 1968. Đến bây giờ tấm ảnh đã có hơn 50 năm, ai cũng biết người trong ảnh là ai nhưng ông vẫn chưa biết nghệ sỹ nhiếp ảnh nào đã ghi lại khoảnh khắc lộng lẫy ấy của ông. Ông nhờ tôi tìm giúp.

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang và nữ du kích Quảng Trị.

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang và nữ du kích Quảng Trị.

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang nhập ngũ vào Lực lượng Công an vũ trang năm 20 tuổi. Sau đó ông được cử đi học đặc công ở Sơn Tây và về hoạt động trong đội hình Ban An ninh Quảng Hà. Đơn vị của ông mang mật danh “Đại Bàng” chuyên “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” diệt ác, trừ gian, bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở, phát động phong trào quần chúng đấu tranh cách mạng từ trong lòng địch. Ông nói rằng muốn hoàn thành nhiệm vụ không dễ vì những tên ác ôn, có nợ máu rất cảnh giác. 

Ví như tên Nguyễn Thanh Tụng - Quận trưởng Hải Lăng làm việc ở Đông Hà nhưng tối về Huế ngủ; tên Tôn Thất Phong- Trưởng khu huấn luyện ở thị xã Quảng Trị thì tối xuống tàu ở cảng Cửa Việt ngủ. Vậy nên phải mất thời gian tìm hiểu tung tích và quy luật hoạt động của đối tượng để xây dựng kế hoạch tác chiến kỹ càng rồi mới thi hành nhiệm vụ. 

Có nhiều cuộc trinh sát kéo dài hàng tháng trời, nằm hầm bí mật, nhịn đói nhịn khát do bị địch bao vây, có nhiều chiến sỹ bị thương không giải vây được đồng đội phải tự xử lý cho nhau tại chỗ. Các ông cũng phải luôn luôn thay hình, đổi dạng để hoạt động. Có khi vào đứng chung hàng ngũ với phía bên kia. Có khi giả làm là sỹ quan của chúng. Cũng có khi là anh chăn trâu...

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang nhớ như in tình tiết mỗi trận đánh ông tham gia. Chấn động nhất vẫn là lần ông đóng giả trung úy bảo an, tự tin đi vào thẳng phòng làm việc của tên Nguyễn Thanh Tụng - Quận trưởng Hải Lăng, đọc lệnh xử tử hình ngay tại chỗ. Cách mạng đánh giá giết được tên Tụng còn hơn giết 1 trung đoàn địch vì Nguyễn Thanh Tụng vốn là Bí thư Đảng ủy của xã Hải Lâm chiêu hồi, trở thành một tên ác ôn khét tiếng. 

Tử hình tên Tụng xong, ông xách luôn chiếc cặp đựng tài liệu để trên bàn làm việc của hắn rồi ung dung đi ra ngoài. Chiếc cặp đã giúp ta bắt gọn toàn bộ mạng lưới mật vụ của địch cài trong hàng ngũ cơ sở cách mạng ở huyện Hải Lăng và nhiều nơi khác trong tỉnh Quảng Trị. Quân địch ở Quảng Hà nháo nhác truy tìm tung tích trung úy bảo an giết tên Tụng. 

Một thời gian sau chúng dò tìm được manh mối về người cả gan giết tên Tụng là Trung úy an ninh cách mạng Nguyễn Xuân Giang, lệnh truy nã dán khắp mọi nơi với giải thưởng 3 triệu đồng “Truy nã Trung úy Giang - Việt cộng nằm vùng nguy hiểm”. 

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang đã trở thành người khác với cái tên khác. Thấy trước nguy cơ bị lộ diện sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của ông, một hôm đồng chí chính trị viên nói rằng “Đồng chí đã bị lộ, nên lấy tên khác để tiếp tục hoạt động”. 

Ông không ngần ngại lấy luôn tên vợ mình là Hà. Vị chính trị viên thêm chữ Việt ở trước, có nghĩa nước Việt, thành Việt Hà . Tên H. ghi trong mẫu tin nhắn của báo chính là Hà, cái tên thứ 2 của ông. Lúc này ông là Thị ủy viên, Phó trưởng Ban An ninh Thị xã Quảng Hà.

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang cũng đã từng đóng giả anh chăn trâu ngồi vơ vơ vẩn vẩn giữa đồng cỏ trên con đường từ Quảng Trị về Cửa Việt ngày này qua ngày khác để tìm hiểu hành tung của tên việt gian Tôn Thất Phong, Trưởng khu huấn luyện. 

Sau đó, đóng vai đại úy thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn cùng hai chiến sĩ đặc công khác cầm “Sử vụ lệnh” giả vào tận sào huyệt tuyên bố bắt sống Tôn Thất Phong và 7 tên khác. Theo lệnh của trên, ông tiêu diệt 3 tên có nợ máu với nhân dân, 5 tên còn lại là tay sai nên được tha bổng cho trở về quê quán.   

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang (ngồi sau) năm 1968.
Anh hùng Nguyễn Xuân Giang (ngồi sau) năm 1968.

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang hoạt động ở Quảng Trị từ năm 1964 đến ngày đất nước thống nhất. Trong khoảng thời gian đó, ông là cánh chim đại bàng sải cánh bay giữa hai miền giới tuyến. Tôi đã đọc những dòng chữ nhoè màu mực trong cuốn nhật ký của ông và bắt gặp dòng tên của những người đồng đội của ông đã hy sinh trong chiến tranh, cả tên của những người lập chiến công xuất sắc được Đảng và Nhà nước ghi nhớ công trạng.

“Càng về già, tôi càng nhớ đồng đội cũ. Những ngày tháng ấy chúng tôi cùng chung gian khổ để sống và chiến đấu. Tôi thương đồng đội tôi. Chung khổ mà không được chung sướng. Anh em chẳng có lấy một ngày bình yên như tôi. Danh hiệu Anh hùng này là tôi nhận thay cho cả đồng đội của tôi đó. Không có anh em chung bước quân hành thì một mình tôi chẳng lập được công trạng gì” - ông bùi ngùi. 

Anh hùng Nguyễn Xuân Giang ví đời ông là một khúc quân hành. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác trong lực lượng Công an tỉnh Quảng Bình cho đến năm 1994 với quân hàm Đại tá, Trưởng phòng Cảnh sát Công an tỉnh Quảng Bình. Bà Hà - vợ ông - vẫn ở Tân Thủy.  Nhắc đến người vợ của mình, ông nói: “Đời bà ấy 10 ngàn ngày chờ đợi. Tôi đi tôi thỏa chí tang bồng. Bà ấy làm vợ tôi, bà ấy khổ...”.

20 tuổi ông Nguyễn Xuân Giang lên đường nhập ngũ. Người yêu của ông đi thanh niên xung phong. Năm 1963, sau 6 tháng học đặc công ở Sơn Tây, ông được phép về nhà cưới vợ trước khi nhận nhiệm vụ mới. Bà Hà lúc đó đang chiến đấu ở đường 10, một cung đường ác liệt bậc nhất ở Quảng Bình thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: “Chưa đi chưa biết đường 10/ Đi rồi mới biết sức người sức ta”. 

Có lẽ do tình hình chiến tranh lúc đó quá căng thẳng nên đơn xin về nhà kết hôn của bà không được chỉ huy chấp thuận. Ông phải đề nghị Bí thư xã đoàn can thiệp... Hơi vừa bén, lửa vừa nồng, ông bà phải chia tay lên đường về đơn vị. Lại một chuỗi ngày biền biệt bặt tin nhau. Mãi đến gần 10 năm sau, năm 1972, Quảng Trị giải phóng, ông mới được cấp trên cho nghỉ tranh thủ. 

Ngày 8 tháng 5 năm 1972, đúng ngày giỗ bố, ông về đến nhà. Mạ ông ngỡ có người lạ ghé qua: “Mời chú vô dùng cơm với gia đình luôn thể”. Ông khóc: “Mạ! Con đây! Thằng Giang của mạ về đây!”. Cả nhà ôm lấy ông khóc... cười.... Người vợ 10 năm chờ đợi của ông lặng lẽ buông bát, quay mặt đi chỗ khác... Đứa con gái đầu lòng của ông bà ra đời nhờ chuyến về tranh thủ ấy. Bây giờ thì người mẹ của ông đã 108 tuổi trời và con gái đầu của ông là một chiến sỹ Công an nhân dân.

Thực hiện lời hứa với Anh hùng Nguyễn Xuân Giang, tôi đã cố gắng liên lạc với một số nghệ sỹ nhiếp ảnh từng hoạt động trên chiến trường Quảng Trị những năm từ 1964 - 1972 thông qua mạng xã hội Facebook, Zalo, điện thoại và nhờ bạn bè hỏi giúp như Nghệ sỹ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính, Nghệ sỹ nhiếp ảnh Hoàng Kim Đáng... nhưng chưa có kết quả. 

Hy vọng khi bài viết này may mắn được đăng báo, sẽ có nghệ sỹ nhiếp ảnh nào tình cờ nhìn thấy những tấm ảnh thời trai của anh hùng Nguyễn Xuân Giang và lên tiếng... giúp ông thỏa mãn tâm nguyện khi về già.

Trương Thu Hiền

Các tin khác

Từ huyền thoại Mã Yên Sơn đến màn ảnh

Từ huyền thoại Mã Yên Sơn đến màn ảnh

Một trong những nguồn cảm hứng để dựng nên bộ phim “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” là những nghi án và truyền thuyết về cái chết của cha con Vua Đinh Tiên Hoàng cùng lăng mộ trên Mã Yên Sơn. Ngọn núi huyền thoại này được xem là “huyệt đế vương”, một trong những danh sơn của cố đô Hoa Lư, Ninh Bình.

Anne Carson và những biên giới mới của văn chương

Anne Carson và những biên giới mới của văn chương

Tối 8/10 (giờ Việt Nam), Viện Hàn lâm Thụy Điển đã vinh danh nhà thơ, nhà viết tiểu luận, học giả văn chương cổ điển và nghệ sĩ thể nghiệm người Canada Anne Carson là chủ nhân mới nhất của giải Nobel Văn chương. Đây là kết quả không quá bất ngờ, bởi không chỉ là một trong hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất ngay trước "giờ G", mà bà còn sở hữu di sản sáng tạo vô cùng đồ sộ, được đánh giá cao.

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.