Những mẩu chuyện thú vị về các nhà văn nổi tiếng

Năm 1934, Chế Lan Viên trọ học ở một ngôi chùa gần sông Thị Nại, thuộc thành Bình Định tại Trường Quốc học Quy Nhơn. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm cũng từ Quảng Ngãi vào học trường này. Tuy học cùng trường nhưng khác lớp, Nguyễn Viết Lãm học trước Chế Lan Viên một năm. Do cả hai đều yêu mến văn chương nên chỉ một lần gặp nhau là trở thành đôi bạn thân thiết ngay.

Nhà thơ Chế Lan Viên nhờ giảng hay lấy được vợ đẹp

Năm 1934, Chế Lan Viên trọ học ở một ngôi chùa gần sông Thị Nại, thuộc thành Bình Định tại Trường Quốc học Quy Nhơn. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm cũng từ Quảng Ngãi vào học trường này. Tuy học cùng trường nhưng khác lớp, Nguyễn Viết Lãm học trước Chế Lan Viên một năm. Do cả hai đều yêu mến văn chương nên chỉ một lần gặp nhau là trở thành đôi bạn thân thiết ngay.

Theo hồi ký của Nguyễn Viết Lãm (Tạp chí Cửa Biển số 57-2001), tại trường cả hai đã tổ chức làm Tạp chí Hoa Sinh, mỗi số dày 60 trang, chép tay ra nhiều bản cho bạn bè đọc. Cũng tại đây là cái nôi hình thành bốn nhà thơ gọi là "Bàn thành tứ hữu". Sau mang tên là "Thái dương văn đoàn" gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan.

Trong 3 năm học ở Quy Nhơn 1934 - 1937, Chế Lan Viên đã làm thơ và xuất bản tập “Điêu tàn”. Những bài thơ đầu trước khi in thành sách, đã in trên Báo Ngày nay, Chế Lan Viên ký tên là Lan Viên, từng được Khải Hưng khen ngợi. Tập “Điêu tàn” ra đời được nhà phê bình văn học Hoài Thanh đánh giá cao: "như một niềm kinh dị". Nhóm thơ Quy Nhơn thời đó tự hào có Chế Lan Viên, một ngọn cờ mới.

Những mẩu chuyện thú vị về các nhà văn nổi tiếng -0
Nhà thơ Chế Lan Viên thời trẻ.

Ngày ấy, Chế Lan Viên đẹp trai, khuôn mặt tròn, nước da trắng, mớ tóc xõa trên trán. Sau khi ra trường, Chế Lan Viên ra Đà Nẵng dạy học ở Trường tư thục Chấn Thanh. Từ nơi này Chế Lan Viên gặp một nữ sinh tên là Giáo, cô này rất yêu thơ văn. Hình như cô Giáo đọc thơ Chế Lan Viên in trên Báo Ngày nay, đã muốn làm quen với Chế Lan Viên nên mấy lần cô gửi thư cho Chế Lan Viên. Mến thơ nhưng chưa hẳn yêu người. Giữa hai người vẫn chỉ là tình cảm hâm mộ văn chương.

Thế nhưng, có một hôm, Thầy Hoan (tên Chế Lan Viên) bình giảng bài thơ "Bình Định", 1935 của Yến Lan.  Bài thơ ấy, nội dung đã hay, nghệ thuật càng hay, nhưng vì thêm một lý do tác giả Yến Lan là bạn thân của thầy Hoan, nên thầy Hoan giảng càng say mê tâm huyết cốt truyền đạt các yếu tố nghệ thuật làm nên bài thơ hay của bạn mình tới học trò. Đặc biệt thầy Hoan giảng đến hai câu thơ:

Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc
Em nằm thương xanh biếc của trời buồn…

Đúng là tâm trạng của tình yêu, của thiếu nữ đang lớn, được thầy Hoan mở rộng trong bài giảng, khiến cô nữ sinh tên Giáo ở tuổi 17 cũng hút hồn theo câu thơ và theo cả thầy…

Sau một thời gian, cô Giáo đã yêu thầy Hoan nhưng mối tình của họ gặp sự cản trở của gia đình bên cô Giáo vì gia đình cô khá giàu có và thế lực ở Đà Nẵng. Vì yêu, Chế Lan Viên rời khỏi Trường tư thục Chấn Thanh cùng người yêu bí mật lên xe lửa về Nha Trang. Sau đó gia đình cô Giáo có lên Nha Trang tìm con. Nhưng Quách Tấn và Nguyễn Đình đã bố trí nơi ăn chốn ở cho cặp đôi Chế Lan Viên êm thấm.

Sau này, gia đình cô Giáo biết Chế Lan Viên là nhà thơ nổi tiếng, nên cha mẹ cô Giáo yên tâm. Một thời gian cặp đôi Hoan - Giáo mới yên tâm trở về Đà Nẵng "Châu về hợp phố". Ít lâu, Chế Lan Viên và cô Giáo sinh con gái đầu lòng, hai người thống nhất đặt tên là "Phan Thị Chấn Thanh" để kỷ niệm mối tình đầy lãng mạn, khởi nguồn từ ngôi trường tư thục có tên Chấn Thanh. Cô Giáo chính là người vợ đầu của nhà thơ Chế Lan Viên.

Thầy giảng thơ hay - lấy được người đẹp như Chế Lan Viên là chuyện vui trong làng giáo và làng văn nghệ. Sau này cuộc hôn nhân cô Giáo - thầy Hoan tan vỡ. Chế Lan Viên có những câu thơ rút ruột mà hay: “Người mang lại ái tình không ở cùng tôi nữa/ Nhưng em còn quẩn mỗi câu thơ/ Trời xanh của sông Hàn nay đã vỡ...”.

Nhà văn Nguyễn Tuân ''trị'' giặc lái Mỹ

Những mẩu chuyện thú vị về các nhà văn nổi tiếng -0
Nhà văn Nguyễn Tuân ở Chiến khu Việt Bắc.

Tháng 12/1972, đế quốc Mỹ đem máy bay B52 ra bắn phá Hà Nội, hòng biến nước ta trở về thời kỳ đồ đá. Biết trước âm mưu này, nhiều cơ quan cùng nhân dân trên địa bàn Thủ đô đều phải đi sơ tán khỏi khu vực Hà Nội. Trong số ấy có cả một số nhà văn, nhà báo. Nhà văn Nguyễn Tuân năm đó đã cao tuổi nhưng ông không đi sơ tán cùng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, mà quyết định ở lại chiến đấu với B52 Mỹ bằng ... ngòi bút.

Đêm 24/12/1972, giặc Mỹ cho máy bay ném bom đánh phá Bệnh viện Bạch Mai, khu phố Khâm Thiên, Hà Nội. Sau khi máy bay Mỹ rút, nhà văn Thép Mới cùng nhà văn Nguyễn Tuân đến hiện trường chụp ảnh, viết bài. Trong 12 ngày đêm quần đảo Hà Nội, giặc Mỹ đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân ta. Gần một tuần sau, trên Báo Nhân dân đã đăng bài tùy bút của Nguyễn Tuân về sự kiện này với tiêu đề "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" - ngợi ca tinh thần chiến thắng B52 của quân và dân Thủ đô. Đồng thời lên án tội ác của đế quốc Mỹ. Nguyễn Tuân "trị" giặc Mỹ bằng ngôn ngữ văn chương trong các bài tùy bút, phóng sự chưa đã, ông còn đích thân tìm đến "khách sạn Hin-tơn", nơi giam giữ những giặc lái Mỹ. Ông hỏi người Trại trưởng trại giam này:

- Một ngày một "ông công tử bột" (ý nói phi công Mỹ) này được phát bao nhiêu thuốc lá?

Trại trưởng trại giam trả lời: - Thưa bác, một bao Tam Đảo, hoặc một bao Điện Biên bao bạc ạ!

Nguyễn Tuân hỏi lại: - Sao không phát cho chúng 17, hay 19 điếu?

Trại trưởng trại giam ngạc nhiên: - Thưa bác, 17 hay 19 thì cũng gần một bao!

Nhà văn Nguyễn Tuân mỉm cười: - Khác đấy ông ạ. Phát cho chúng nó một bao thì đơn vị là bao. Phát một bao chúng nó đòi 2 bao, 3 bao. Phát điếu thì đơn vị là điếu.

Nhấp một hớp trà rồi nhà văn rề rà, tỉa tót: - Cái bọn này nó giết người như rác. Cho nên phải dạy cho chúng nó thấm thía cái thân phận tù nhân đi xâm lược. Phát mỗi đứa một bao, nó đưa tay ra, bỏ luôn vào túi, mặt vẫn vênh. Còn phát 17 hay 19 điếu thì chúng nó phải bóc, phải đếm, phải chia nhau, lại có điếu lỏng, điếu tụt, rồi lại tranh nhau cái vỏ bao, rồi lại có thằng ăn gian nữa. Có thể mắng nhau, đánh nhau là chuyện thường. Phải để chúng bộc lộ hết cái hèn hạ, tầm thường của chúng nó ra chứ!

Nghe nhà văn Nguyễn Tuân nói vậy, anh Giám đốc trại giam vô cùng khâm phục:

- Thưa bác, bác là nhà văn mà lại giỏi chính trị quá!

Nguyễn Tuân vẫn tưng tửng:

- Cái chính trị trong văn chính là cái chính trị ghê gớm nhất. Nó là đường gờ-lu-cô chứ không phải đường sắc-ca-rô, nó là rượu đã chưng cất từ gạo lên chứ không phải là gạo!

Được nghe những điều "chỉ huấn" rất sâu sắc từ nhà văn Nguyễn Tuân. Hôm sau anh Trại trưởng trại giam đã áp dụng kiểu chia thuốc lá như thế. Tất cả những điều mà nhà văn Nguyễn Tuân dự đoán đều đã xảy ra: Ăn gian, không nhận điếu tụt, tranh nhau vỏ bao và ... đấm nhau.

Chuyện ba nhà văn, ba thời kỳ cất giấu bản thảo

“Cất” bản thảo dưới rãnh cày:

Nhà văn Ngô Tất Tố (1894-1954) rất sợ mất bản thảo. Cuối năm 1946, từ Hà Nội đưa gia đình lên Việt Bắc. Trên đường đi cụ cứ lùi lại phía sau, mặc vợ con gồng gánh lếch thếch đi trước. Thỉnh thoảng cụ lại tạt ngang vào cánh đồng đã cày, dúi cái gì đó vào giữa luống cày lật úp, rồi lại đi tiếp.

Thấy thế bà vợ nhà văn sốt ruột hỏi, ông trả lời động viên vợ con:

- Nhà và các con cứ gắng đi đi...

Mãi sau mọi người trong gia đình mới vỡ lẽ: Sợ Tây bắt được, lấy mất bản thảo, nên nhà văn phải tạm thời “cất giữ” nó dưới những luống cày phơi nỏ ấy.

Bản thảo giấu trong hầm bê tông:

Nhà văn Xuân Cang (họ Nguyễn) sinh năm 1932 tại Hà Nội. Ông có ngót 20 năm sống và viết ở khu gang thép Thái Nguyên. Thời kỳ đầu xây dựng khu gang thép, Xuân Cang đã có mặt, nhà văn công tác ở bộ phận Công đoàn, thư ký cho đồng chí Trần Bảo, một chiến sĩ cách mạng tiền khởi nghĩa, nhiều năm bị địch bắt tù đày ở Côn Đảo. Nhà văn Xuân Cang luôn luôn “Bám sát” để nghe đồng chí Trần Bảo mỗi khi kể cuộc đời hoạt động của đồng chí đến đâu thì ghi đến đấy.

Những năm giặc Mỹ leo thang, phá hoại miền Bắc 1964-1972, Xuân Cang giấu bản thảo đó xuống dưới một cái hầm nhỏ, đổ bê tông, nắp đậy bằng cốt thép xi măng, phòng cháy. Sau này tập bản thảo in thành sách có tên là “Hạt máu” do Nhà xuất bản Lao động in 1970. Sở dĩ Xuân Cang, lấy tên “Hạt máu” là được đọc một câu thơ trong bài thơ dài của Tố Hữu “Ba mươi năm đời ta có Đảng” có câu “Đảng ta sinh ở trên đời, một hòn máu đỏ, nên ngày hôm nay”.

Bản thảo giấu vào hũ:

Nhà văn Phù Thăng, tên thật Nguyễn Trọng Phu, sinh năm 1928, tại Hải Dương mất năm 2008. Ông tham gia bộ đội, chống Pháp ở quân khu 3, thuộc trung đoàn 42. Là tác giả nhiều kịch bản phim, trong đó có kịch bản “Biển lửa” nổi tiếng. Sau khi viết tiểu thuyết “Phá vây” in 1964, người ta cho là sách có vấn đề, hữu khuynh tiêu cực. Ông về hưu năm 1988 sống ở quê nhà.

Trong thời gian sống ở quê, ông thường đi cày, trồng hàng mẫu lúa, những lúc có điều kiện, có cảm xúc ông lại viết tiểu thuyết. Viết đến hàng trăm trang, ông sợ mối mọt, chuột bọ nên bí mật cho bản thảo vào trong cái hũ sành, lấy lá chuối khô đậy nút. Nắp của hũ đậy bằng một cái ống bơ, như ống bơ người ta thường đong gạo. Bản thảo của nhà văn Phù Thăng cất vào hũ rượu, vì hũ rượu mà không có rượu bà vợ ông gọi là “hũ văn”.

Lê Hồng Thiện (sưu tầm và biên soạn)

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.