Những kỷ niệm sâu đậm với nhà thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, một thần tượng thi ca trong tôi. Đến giờ đây nhà thơ Y Phương, tức ông bạn cùng thuở lính với tôi vẫn khẳng định rằng: Cái tên ký Châu La Việt của tôi là bắt đầu từ ba chữ cái CLV của tên ông Chế Lan Viên!

… Tôi yêu thơ Chế Lan Viên từ những ngày thơ trẻ, nhất là yêu những câu thơ cuồn cuộn một tình yêu lớn với đất nước, quê hương "Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông" hoặc "Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" nghe dào dạt lắm, nghe sướng lắm. Những câu thơ ấy vừa như chính khúc hát của tâm hồn trai trẻ của mình, mà lại vừa như thắp thêm một ngọn lửa diệu kỳ về tình yêu quê hương Tổ quốc trong trái tim mình… Nhất lại vào những ngày kháng chiến, những ngày mà vì tiếng gọi non sông, vì tình yêu Tổ quốc, ai cũng thiết tha cầm súng lên đường, sẵn sàng hy sinh tất cả…

May mắn cho tôi là vào cái buổi mình yêu thơ Tố Hữu, yêu thơ Chế Lan Viên nồng nhiệt, tôi lại có may mắn được gặp Chế Lan Viên. Do mẹ tôi thân với ông từ thời chống Pháp ở Khu Tư, ở Bình Trị Thiên; lại là đồng hương nên khi thấy tôi thích thơ ông quá, một hôm mẹ tôi mới dẫn tôi đến thăm ông, trong một căn nhà nhỏ trong khu nhà 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Gặp nhau, hai người mải mê trò chuyện về quê hương Quảng Trị.

Nhà thơ Chế Lan Viên cùng con trai (nhạc sĩ Phan Lai Triều). Ảnh chụp trước ngày Phan Lai Triều nhập ngũ.
Nhà thơ Chế Lan Viên cùng con trai (nhạc sĩ Phan Lai Triều). Ảnh chụp trước ngày Phan Lai Triều nhập ngũ.

Ngồi yên bên mẹ, được chiêm ngưỡng ông, được nghe chuyện của ông, tôi như bị hớp hồn… nhưng tôi vẫn chợt nhận ra một điều rất buồn cười. Trên bàn làm việc của ông có một tấm biển nhỏ ghi hàng chữ: "Tôi rất bận, xin các bạn không ngồi lâu quá 5 phút". Răng rứa anh?" - Mẹ tôi cười hỏi ông. Ông cũng nở một nụ cười: "Anh nhiều khách quá nên phải đặt ra nguyên tắc ấy. Bất cứ vị khách nào đến, dù công việc gì anh cũng xin phép tiếp đúng 5 phút thôi". Mẹ tôi hỏi đùa ông: "Nhưng họ cứ ngồi lỳ ra thì mần răng?".

"Thì đây" - Thần tượng của tôi nở một nụ cười hóm hỉnh, tay bấm một công tắc điện, lập tức một chiếc đèn con màu đỏ nhấp nháy liên hồi ở cái biển "xin không ngồi quá 5 phút". Vui chuyện thế, mà ông cũng liền đứng dậy tiễn mẹ tôi ra cửa, xoa xoa lên tóc tôi: "Cháu về nhé, có gì muốn hỏi về thơ thì cháu cứ đến đây…".

Sau này tôi có đến thăm ông một đôi lần, nhưng lần nào từ cửa nhìn vào cũng thấy căn phòng ông có khách. Thế là lặng lẽ ra về. Chỉ có một lần tôi đánh bạo vào, lí nhí nói với ông là cháu có làm được ít bài thơ, nhờ bác đọc và chỉ bảo cho cháu. Tôi run run đưa ông cuốn vở nhỏ chép thơ - những bài thơ đầu đời vụng dại. Ông đón nhận trìu mến: "Cháu cứ để bác xem, rồi bác sẽ ghi ý kiến nhận xét". Nói rồi ông quay sang nói với mấy vị khách trong phòng như giới thiệu về tôi: "Con trai Tân Nhân đấy". Tôi nghe những tiếng thì thầm: "Con Hoàng Thi Thơ à?". "Có lẽ thế. Nhìn nó giống lắm!". Lại tiếng thì thào: "Sao nó không đi viết nhạc mà đi làm thơ hè?".

Thời gian sau đó, tôi có quyết định nhập ngũ. Tôi đến chào ông để lên đường. Ông có vẻ bất ngờ: "Cháu sẽ vào chiến đấu ở đâu? Ở binh chủng gì?". Tôi nói với ông: "Có lẽ miền Nam bác ạ". Ông bảo ông cũng có một người con trai mới lên đường. Rồi ông đưa ra tập thơ của tôi, được cất trong một phong bì bằng giấy báo do ông tự cắt dán: "Thơ của cháu đây, bác đã đọc kỹ rồi, và có ghi kỹ những nhận xét. Cháu có tâm hồn thơ, nay lại có thêm thực tế chiến đấu ở mặt trận, sẽ rất tốt cho thơ cháu tương lai. Nếu cháu làm được bài thơ nào, cháu gửi về cho bác xem nhé".

Chưa hết, ông còn lấy một tấm ảnh nhỏ đặt trên bàn, ảnh chụp ông với một người chiến sĩ trẻ, rồi ghi vào sau đó dòng chữ: "Tặng cháu Châu La Việt tấm ảnh bác chụp với con trai bác - anh Phan Lai Triều ngày anh Triều nhập ngũ". Tay tôi run lên đón nhận tấm ảnh ông trao, có cả bút tích của ông, như một kỷ niệm thiêng liêng ông dành cho tôi đi vào mặt trận…

Tấm ảnh ấy đã theo tôi qua nhiều sông, nhiều suối, nhiều chặng đường bom đạn, khi bên Đông lại khi bên Tây Trường Sơn. Theo tấm ảnh ấy, gặp cánh quân nào tôi cũng xem có gương mặt nào tương tự như anh Triều con nhà thơ Chế Lan Viên hay không, để hy vọng anh em gặp nhau hàn huyên tâm sự với nhau về ông, về một người cha mà cả hai đều rất yêu quý. Nhưng bao cánh quân giao nhau mà vẫn không một lần được gặp. Sau này tôi biết anh Phạm Tiến Duật cũng nhiều năm tháng trên đường Trường Sơn cũng tìm anh Triều, gặp đoàn quân nào cũng hỏi: "Thằng Triều con anh Hoan/ Có trong đoàn quân ấy?" (Trường ca "Những vùng rừng không dân". Tên thật của nhà thơ Chế Lan Viên là Phan Ngọc Hoan).

Nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Vũ Thị Thường bên hai con gái Phan Thị Thắm và Phan Thị Vàng Anh.
Nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Vũ Thị Thường bên hai con gái Phan Thị Thắm và Phan Thị Vàng Anh.

Đã không gặp được anh Triều, mà rồi tôi cũng không giữ được tấm ảnh! Có lẽ đó là một trong những tiếc nuối nhất của tôi về kỷ vật trong chiến tranh. Nhưng mất đi tấm ảnh không phải do tôi. Trong một trận chiến đấu, máy bay Mỹ phóng bom trúng vào trận địa, chúng tôi người còn kẻ mất, ba lô quần áo cháy hết. Tấm ảnh cũng cháy đen. Từ đấy tôi chỉ còn hình ảnh ông và người con trai ông trong trái tim…

Nhiều năm tháng sau khi ông đã mất, vật kỷ niệm ông trao tôi ngày lên đường có hình ảnh, có bút tích thương yêu của ông luôn là một tiếc nuối lớn trong tôi. Có một lần ra nhà sách Fahasa, thoáng thấy một cuốn "Nắng gió Trường Sơn" của tác giả Phan Lai Triều, tôi liền mua ngay. Thật bất ngờ trong tập sách ấy, có tấm hình nhà thơ Chế Lan Viên và anh Phan Lai Triều chụp ngày anh Triều nhập ngũ. Đó chính là bức hình ông tặng tôi mà bom đạn đã thiêu cháy. Trái tim tôi như bóp lại. Tôi đã tìm lại được kỷ niệm xưa đầy thiêng liêng của mình, đã tìm lại được trái tim nhân ái và đầy yêu thương của bác Chế Lan Viên ngày ấy đã dành cho một người lính trẻ là tôi…

Rồi một lần tôi đến thăm mẹ tôi, tôi lại bất ngờ gặp anh Phan Lai Triều. Anh đang ôm đàn và hát cho mẹ tôi nghe một bài hát anh mới viết về đồng đội ở Trường Sơn… Cũng buồn cười, tôi là con ca sĩ nhưng lại "mê" bố anh nhà thơ, còn anh là con nhà thơ lại "mê" mẹ tôi, ca sĩ …

Có một điều liên quan đến tấm ảnh mà anh Triều đã kể lại cho tôi nghe rằng: Ngày anh lên đường, bố anh nhờ một người bạn nhiếp ảnh chụp cho hai cha con một tấm làm kỷ niệm, rồi in ra hai tấm. Anh Triều mang theo một tấm lên đường, còn ông giữ một tấm, trang trọng để ngay trên bàn làm việc để nguôi ngoai nhớ đứa con đi xa… Nhưng ngày tiễn tôi, ông đã gỡ tấm ảnh ấy ra trao tặng nốt. Anh Triều bảo, có lẽ ngày ấy bố anh cũng đã coi tôi như con…

*

Năm 2010 tôi xây nhà ở quận 9. Bên những hàng tre hàng trúc, tôi trồng một cây khế. Con tôi hỏi vì sao ba trồng cây khế, tôi bảo là vì ba yêu thơ ông Chế Lan Viên. Rồi đến mùa khế ra hoa, thành quả. Cầm trái khế trên tay, tôi không chỉ nhớ Chế Lan Viên, mà cả vô cùng nhớ mẹ. "Canh cá tràu mẹ thường hay nấu khế/ Khế trong vườn thêm một tý rau thơm/ Ừ, thế đó mà một đời xa mẹ…". Cứ đọc đến câu này là tôi lại khóc, dù đọc một mình hay đọc cho vợ con nghe. Nhớ thương mẹ vô vàn. Chuyện về người con trai duy nhất của nhà thơ Chế Lan Viên là nhạc sĩ Phan Lai Triều tôi sẽ kể với độc giả VNCA vào một dịp khác.

Châu La Việt

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.